BS NHI KHOA

BS NHI KHOA

Share

Bs Nhi Khoa sẽ cho các mẹ những lời khuyên tốt nhất để nuôi con khỏe nhé

19/02/2023
14/01/2022

💡HƯỚNG DẪN MẸ CÁCH BỔ SUNG VITAMIN D3 AN TOÀN CHO TRẺ

Vitamin D là một loại vitamin tan trong chất béo tồn tại ở hai dạng: Vitamin D3 cholecalciferol) và Vitamin D2 (ergocalciferol). Theo đó, Vitamin D3 tốt hơn các loại Vitamin D khác và làm tăng nồng độ vitamin D trong máu cao gần gấp đôi so với Vitamin D2.

Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ khuyến cáo sử dụng vitamin D chung và không có khuyến cáo dành riêng cho vitamin D3, do đó bố mẹ có thể tham khảo khuyến cáo này như sau:
♒ Tất cả trẻ sơ sinh, trẻ em và thanh thiếu niên nhận được tối thiểu 400 IU vitamin D mỗi ngày thông qua chế độ ăn uống hoặc thực phẩm bổ sung.
♒ Bố mẹ cần bổ sung vitamin D cho trẻ sơ sinh, tuy nhiên nếu trẻ sơ sinh được nuôi bằng sữa công thức có lượng vitamin D đầy đủ thông qua sữa nên có thể không cần bổ sung thêm.
♒ Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ hoàn toàn hoặc một phần, cũng như trẻ em và thanh thiếu niên tiêu thụ ít hơn 01 lít sữa bổ sung vitamin D/ngày thì nên bổ sung thêm 400 IU vitamin D mỗi ngày.

Vitamin D3 (cholecalciferol) là dạng vitamin D được ưa thích để bổ sung. Trẻ em mắc một số bệnh nhất định, như kém hấp thu chất béo và những trẻ cần sử dụng thuốc điều trị lâu dài có thể cần sử dụng liều vitamin D cao hơn vì tăng nguy cơ thiếu hụt. Không có bằng chứng nào cho thấy rằng bổ sung 400 IU vitamin D hàng ngày là độc hại. Tuy nhiên, bố mẹ cần sử dụng cho trẻ theo đúng hướng dẫn của bác sĩ.

01/05/2021

SÂU RĂNG TRẺ EM - LÀM SAO PHÒNG NGỪA VÀ KHẮC PHỤC? 🦷🦷🦷🥱

Không ai trong chúng ta muốn bị sâu răng vì nó gây đau đớn, hơi thở có mùi, dẫn đến sâu răng nặng hơn và thậm chí là mất răng. Đặc biệt đối với trẻ em thì sâu răng càng làm bé khó chịu hơn vì khả năng chịu đau của trẻ em vốn kém hơn người lớn.
Để có một hàm răng khoẻ mạnh, đẹp khi trưởng thành thì các bé phải được ba mẹ chăm sóc và hướng dẫn cách chăm sóc răng miệng đúng từ khi còn rất bé để phòng ngừa răng sâu. Đó cũng là nội dung mà bài viết này muốn nhắn gửi đến các bậc cha mẹ và các bé.

🦁Sâu răng là gì? Sâu răng là quá trình mất men răng và ngà răng do vi khuẩn sản sinh ra acid từ thức ăn còn bám trên răng theo thời gian.

🦁Nguyên nhân gây sâu răng
4 yếu tố chính là: răng nhạy cảm, vi khuẩn, chất bột đường và thời gian. Sau khi ăn, đường và tinh bột có trong thức ăn sẽ tạo thành mảng bám trên bề mặt răng. Theo thời gian vi khuẩn lên men tạo ra axit làm soi mòn men răng và tạo ra các lổ nhỏ li ti. Sau đó, vi khuẩn và axit tiếp tục tác động đến phần răng bị tổn thương và gây sâu răng.

🦁Vì sao phải điều trị và phòng ngừa sâu răng ở trẻ em?
Có quan niệm cho rằng khi vẫn là răng sữa thì thế nào cũng được thay bằng răng vĩnh viễn nên không cần phải chữa trị. Tuy nhiên, đây là quan niệm sai lầm vì răng sữa cũng đóng vai trò quan trọng đến quá trình mọc của răng vĩnh viễn, nó hướng dẫn cho răng vĩnh viễn mọc. Khi trẻ bị mất răng cối sữa sớm, các răng ở phía sau răng bị mất sẽ di gần vào khoảng trống mất răng gây thiếu chổ cho các răng vĩnh viễn mọc thay thế và hậu quả là bé sẽ có hàm răng mọc xô lệch, kém thẩm mỹ.

🦁Trẻ bị sâu răng phải làm sao?
Khi phát hiện trẻ bị sâu răng cần nhanh chóng khắc phục, nếu không chúng có thể gây ảnh hưởng đến răng vĩnh viễn gây ra mọc lệch, mọc chậm hay tiêu xương hàm,… Các bậc cha mẹ nên đưa trẻ đến khám tại các trung tâm nha khoa hoặc bệnh viện chuyên điều trị răng miệng cho trẻ để bác sĩ khám tình trạng thực tế của lổ sâu và cho giải pháp thích hợp. Trám lổ sâu răng, điều trị tuỷ răng hoặc bôi thuốc phòng ngừa sâu răng là những cách điều trị sâu răng ở trẻ em.

🦁Cần làm gì để phòng ngừa bệnh sâu răng?
Việc phòng ngừa răng sâu tuy rất quan trọng nhưng lại đơn giản. Phương pháp hữu hiệu và đơn giản nhất để phòng ngừa sâu răng là ngăn ngừa sự hình thành của mảng bám. Vì mảng bám được tích tụ liên tục hàng ngày nên việc chăm chỉ giữ gìn thói quen chăm sóc răng miệng là hết sức quan trọng.
🌼 Cần cắt giảm thức uống có đường cũng như đồ ăn nhiều tinh bột 🍭🍬🍪🍩
🌼 Đánh răng ít nhất hai lần mỗi ngày hoặc tốt nhất là đánh răng ngay sau khi ăn và trước khi đi ngủ, mỗi lần đánh răng 2-3 phút🌞🌙
🌼 Đừng quên sử dụng chỉ nha khoa ít nhất mỗi ngày một lần để làm sạch thức ăn ở vùng kẽ răng nơi mà bàn chải không thể làm sạch được💦🪡
➢ Sử dụng sealant nha khoa (một lớp xi- măng phủ trên mặt nhai của răng nhằm chống sâu răng xâm nhập vào trũng rãnh của răng🧑🏻‍⚕️👩🏻‍⚕️

26/04/2021

Cách đặt thuốc hạ sốt qua đường hậu môn cho trẻ

Ngày nay các BS khuyên nếu bé còn thức thì nên uống. Đặt hậu môn chỉ dùng khi bé đang ngủ và có sốt cao.

1. Bỏ viên thuốc đặt lên ngăn đá tủ lạnh
2. Rửa tay
3. Để bé nằm nghiêng trái với chân phải co. Có thể cho bé nằm ngửa 2 chân co (như thay tả) hoặc nằm sấp co gối chổng mông.
4. Bóp nhẹ thấy viên thuốc đã cứng, xé bao, cầm viên thuốc bằng ngón cái và ngón trỏ, nhét đầu nhọn vào lỗ hậu môn trẻ. Phải đẩy viên thuốc lọt vào hẵn bên trong hậu môn. Dùng tay bóp nhẹ mông vài giây để giữ thuốc không bị vọt trở ra.
5. Rửa tay
6. Sau đó bé nên nằm như vậy 10-15 phút để thuốc tan hẵn trong hậu môn.

Tốt nhất là dùng viên thuốc phù hợp với số ký của trẻ và nhét nguyên viên. Nếu vì lý do bất khả kháng cần phải cắt đôi viên thuốc thì phải CẮT DỌC khi viên thuốc còn cứng ở trong bao. Không cắt ngang và không cắt khi viên thuốc đã xé ra khỏi bao.

Photos from BS NHI KHOA's post 14/01/2021

Nuôi con đôi khi có những lúc con mình rơi vào nguy hiểm
Các mẹ lưu lại nhé

31/12/2020

NHIỄM SIÊU VI Ở TRẺ EM
Thế nào là sốt siêu vi?
Thời tiết mấy ngày gần đây mưa nắng thất thường, làm thay đổi môi trường sống thuận lợi cho các siêu vi trùng (virus) phát triển. Nếu sức đề kháng của trẻ kém, trẻ sẽ dễ mắc bệnh nhiễm siêu vi hay sốt siêu vi.

Sốt siêu vi cũng có thể diễn tiến thành sốt xuất huyết, cũng có thể là viêm đường hô hấp hay cảm cúm hay sốt phát ban, thậm chí là bệnh tay chân miệng. Do đó, thường bác sĩ hẹn bệnh nhân khám lại mỗi ngày hay làm một số xét nghiệm để biết thêm chính xác trẻ bị bệnh gì. Nếu không tìm được nguyên nhân gây sốt trên, cũng như loại trừ các nguyên nhân do vi khuẩn như viêm amiđan, viêm tai giữa cấp, nhiễm trùng tiểu,…cũng như các xét nghiệm không thấy gợi ý nhiễm khuẩn, bác sĩ vẫn giữ nguyên chẩn đoán nhiễm siêu vi và bệnh này thường sẽ tự khỏi trong vòng 5-7 ngày. Một số trẻ hay người lớn có tiếp xúc với nguồn lây đặc biệt các siêu vi (virus) H1N1, H5N1, H7N9 có thể biểu hiện viêm phổi nặng diễn tiến đến suy hô hấp nặng, tử vong nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Nhận biết các dấu hiệu khi trẻ bị sốt siêu vi
1. Sốt cao: Đây là biểu hiện thường gặp ở những trường hợp sốt do siêu vi, thường từ 38-390C, thậm chí 40-410C. Khi hạ sốt trẻ lại tỉnh táo, chơi bình thường; Ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, khi sốt cao không được hạ sốt kịp thời, trẻ dễ bị co giật, tăng tiết đàm nhớt dẫn đến suy hô hấp, thiếu ôxy não, nếu không được xử lý kịp thời.
2.Đau nhức mình mẩy: ở trẻ lớn thì đau cơ bắp, trẻ thường kêu đau khắp mình, trẻ nhỏ có thể quấy khóc;
3. Đau đầu: một số trường hợp trẻ có thể đau đầu nhưng vẫn tỉnh táo
4. Viêm long đường hô hấp: Các biểu hiện viêm long đường hô hấp như ho, chảy nước mũi, hắt hơi, họng có thể đỏ…
5. Rối loạn tiêu hóa: Thường xuất hiện sớm nếu nguyên nhân gây sốt do siêu vi đường tiêu hóa, cũng có thể xuất hiện muộn hơn vài ngày sau khi sốt với đặc điểm là tiêu lỏng, không có máu, chất nhày.
6.Viêm hạch: một số trẻ có biểu hiện sưng hạch vùng đầu, mặt, cổ sau tai, gáy, thường kích thước nhỏ, không đau. Nếu sưng vùng ngay trước tai có thể nghi ngờ trẻ mắc bệnh quai bị.
7.Phát ban: một số trẻ biểu hiện nổi ban, phát ban khu trú ở mặt, chi hay toàn thân. Thường xuất hiện 2-3 ngày sau khi sốt, khi xuất hiện ban thì trẻ sẽ đỡ sốt.
8.Viêm kết mạc mắt: Kết mạc mắt có thể đỏ, có ghèn, chảy nước mắt. khi xuất hiện kèm với ban đỏ có thể nghi ngờ trẻ bị ban sởi.
9.Nôn: trẻ có thể nôn nhiều lần nhưng thường xuất hiện sau khi ăn.
Một số biến chứng nặng hiểm gặp như viêm phổi gây suy hô hấp tiến triển hay viêm não hay lồng ruột do một số hạch mạc treo ruột bị viêm, các nang bạch huyết sưng to sẽ nhô vào lồng ruột, cản trở nhu động của ruột khiến hai đoạn ruột kế cận chui vào

XỬ TRÍ
Các bệnh do siêu vi gây ra hầu hết chưa có thuốc đặc hiệu, chủ yếu là điều trị triệu chứng, đối với sốt siêu vi hay nhiễm siêu vi ở trẻ em cũng vậy. Do đó, các biện pháp thường áp dụng là:
Chăm sóc trẻ sốt
-Cởi bỏ bớt chăn mền, quần áo, chỉ cho trẻ mặc một lớp quần áo mỏng, trắng để cơ thể tỏa nhiệt làm giảm sốt
-Cho thuốc hạ sốt ở trẻ có nhiệt độ > 380C. Thuốc được chọn là acetaminophen (paracetamol) vì đây là thuốc hiệu quả nhanh, thường có tác dụng 30 phút và kéo dài từ 4 – 6 giờ, ít tác dụng phụ. Cần cho trẻ uống đúng liều 10 – 15 mg/kg/lần, ngày uống 4 lần nếu trẻ còn sốt.
-Lau mát bằng nước ấm (nuớc thường pha âm ấm để tắm em bé) khi trẻ sốt cao trên 39-400C gây khó chịu trong khi chờ tác dụng của thuốc hạ sốt hoặc trẻ đang co giật. Lau mát hạ sốt thường áp dụng cho trẻ từ 6 tháng – 5 tuổi, không áp dụng cho trẻ sơ sinh vì dễ gây mất nhiệt, hạ thân nhiệt. Nước ấm giúp mạch máu dưới da dãn nỡ tốt giúp thải nhiệt. Tránh dùng nước lạnh hay nước đá sẽ làm các mạch máu co lại không tỏa nhiệt được. Thường dùng 4 khăn nhúng nước ấm, vắt hơi ướt, đắp 2 bên nách, 2 bên bẹn, một khăn khác đắp lau khắp người trẻ. Kiểm tra nhiệt độ trẻ mỗi 15 – 30 phút, ngưng lau mát khi nhiệt độ dưới 380C
-Xử trí khi trẻ sốt cao co giật
-Đặt trẻ nằm nghiêng một bên để đàm nhớt dễ chảy ra ngoài, tránh hít đàm nhớt vào phổi
-Nhét hậu môn thuốc hạ nhiệt acetaminophen
-Lau mát cho trẻ bằng nước ấm
-Đưa trẻ tới cơ sở y tế để có hướng điều trị tiếp

Bù nước
Khi sốt cao có thể gây mất nước, gây rối loạn điện giải cơ thể. Do đó nên cho trẻ uống nhiều nước chín hoặc bù nước điện giải bằng cách uống Oresol (một gói Oresol pha một lít nước uống dần trong ngày).

Chống bội nhiễm
-Vệ sinh sạch sẽ cho bé, tắm bằng nước ấm, phòng kín. Nhỏ mắt, nhỏ mũi bằng Natrichlorua 0,9% để tránh bội nhiễm vi khuẩn đường hô hấp.
-Cách ly trẻ không cho đến trường (vì bệnh có thể gây thành dịch).
-Giữ ấm cho trẻ.

Dinh dưỡng:
Cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, giàu dinh dưỡng.
Những điều không nên làm
-Quấn kín trẻ
-Kiêng ăn uống
-Nặn chanh, đổ sả, đổ thuốc vào miệng trẻ khi trẻ đang co giật vì gây sặc, tắc đường thở đưa đến tử vong.
-Cạo gió, cắt lễ

Khi nào cần đưa trẻ đến bệnh viện
Đưa trẻ bị sốt khám bệnh mỗi ngày khi
-Trẻ sốt cao khó hạ hoặc sốt trên 2 ngày
-Trẻ < 2 tháng bị sốt
-Sốt kèm xuất hiện chấm xuất huyết ở da hay hồng ban mụn nước lòng bàn tay chân hoặc mụn nước ngứa toàn thân hay phát ban, tử ban hay kèm biểu hiện bất thường nào khác

Đưa trẻ tái khám ngay khi
-Lơ mơ, ngủ nhiều li bì khó đánh thức
-Nôn ói nhiều, nôn ra tất cả mọi thứ
-Không ăn uống được hoặc bỏ bú
-Co giật hay giật mình chới với, hoặc run chi
-Thở bất thường, thở mệt, tím tái
-Tay chân mát lạnh, da nổi bông
-Bứt rứt đau bụng
-Chảy máu cam, máu răng, ói máu, tiêu phân đen
-Có biểu hiện bất thường nào khác

Phòng ngừa
Một vài cách để tránh cho trẻ ít bị nhiễm siêu vi:
-Không cho trẻ tiếp xúc với người đang bệnh
-Giữ ấm cho trẻ
-Không cho trẻ dầm mưa hay chơi ngoài nắng hay đi bơi quá nhiều, tắm dầm nước lâu
-Đảm bảo:
Vệ sinh ăn uống
Môi trường sống thoáng mát, sạch sẽ
-Chích ngừa: cúm, viêm não, thủy đậu, sởi

Trẻ mắc bệnh nhiễm siêu vi, quí phụ huynh không nên quá lo lắng hoặc quá chủ quan mà phải chăm sóc trẻ chu đáo, uống thuốc theo toa bác sĩ và biết cách nhận biết các dấu hiệu nặng để đưa trẻ đến cơ sở y tế khám và chữa bệnh kịp thời.

18/12/2020

Khi nào trẻ uống sữa tươi, khi nào trẻ uống sữa bột?

Nhiều phụ huynh đặt câu hỏi tại sao không được cho trẻ chỉ uống sữa bò thông thường (sữa tươi)? Và trẻ độ tuổi nào thì được uống sữa tươi?
Câu trả lời đơn giản là vì trẻ sơ sinh không thể tiêu hóa sữa tươi một cách hoàn toàn hay dễ dàng như khi trẻ tiêu hoá sữa bột dù cả hai loại đều chế biến từ sữa bò.

Sữa tươi có chứa hàm lượng đạm và khoáng chất cao, có thể gây gánh nặng cho thận chưa trưởng thành của trẻ sơ sinh. Thêm vào đó, sữa tươi thiếu lượng sắt thích hợp, vitamin C và các chất dinh dưỡng khác cần thiết cho trẻ; thậm chí có thể gây thiếu máu do thiếu sắt ở một số trẻ, vì đạm trong sữa tươi có thể gây kích ứng niêm mạc dạ dày và ruột, dẫn đến mất máu trong phân. Sữa tươi cũng không chứa các loại chất béo lành mạnh nhất cho trẻ đang phát triển. Chính vì những lý do này, trẻ em trong mười hai tháng đầu đời (dưới 12 tháng tuổi) không nên dùng sữa tươi thông thường. Để trẻ dùng được, sữa bò phải chế biến lại cho phù hợp theo các tiêu chuẩn qui định, vì vậy có tên gọi là sữa công thức (sữa bột như ta thường thấy)..

Khi trẻ hơn 12 tháng tuổi, bạn có thể cho trẻ uống sữa tươi hoặc sữa giảm chất béo (2%), miễn là trẻ được cung cấp một chế độ ăn đặc cân bằng (ngũ cốc, rau, trái cây và thịt). Nhưng hãy giới hạn lượng sữa của trẻ ở mức 1 lít trong ngày. Vì nếu nhiều hơn lượng sữa này có thể gây dư năng lượng và làm giảm cảm giác thèm ăn các loại thức ăn khác cần thiết cho trẻ. Nếu trẻ vẫn chưa ăn được nhiều loại thức ăn rắn, hãy tư vấn với bác sĩ nhi khoa về chế độ dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ.

Cần lưu ý là không cho trẻ uống sữa 1% (ít béo) hoặc không béo (tách béo) trước 24 tháng tuổi. Vì ở độ tuổi này, trẻ vẫn cần hàm lượng chất béo cao hơn. Nếu con bạn thừa cân hoặc có nguy cơ bị thừa cân, hoặc nếu tiền sử gia đình bị béo phì, cao huyết áp hoặc bệnh tim, bác sĩ nhi khoa có thể đề nghị dùng sữa 2% (đã giảm chất béo) để thay thế.

Sau 24 tháng tuổi, bạn nên trao đổi với bác sĩ nhi khoa về nhu cầu dinh dưỡng của trẻ, bao gồm cả việc lựa chọn các sản phẩm sữa ít béo hoặc không béo.

Cần nhớ, sữa mẹ luôn là thức ăn tốt nhất cho sự phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Cần cho trẻ bú mẹ đến ít nhất 24 tháng.

Hãy inb để được Bs Nhi Khoa tư vấn

02/12/2020

VẶN MÌNH, ƯỠN NGƯỜI, TRẺ MUỐN NÓI GÌ VỚI CHÚNG TA?
Đây là 1 câu hỏi có thể nói BS hay gặp nhất khi khám bệnh/ tư vấn cho các ba mẹ

Thật ra trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ rất hay vặn mình, ưỡn người, có khi kèm theo khóc. Cha mẹ ai cũng muốn con bú nhiều, ngủ ngon, tăng cân, lúc nào cũng vui vẻ thế nhưng sự đời thường không như ý.

Nhưng hãy bình tỉnh, thở sâu, bài này sẽ bàn tới những nguyên nhân có thể gây ra tình trạng vặn mình, ưỡn người ở trẻ nhỏ, theo thứ tự nguyên nhân thường gặp, lành tính cho tới hiếm gặp và nguy hiểm

1 NHU CẦU GIAO TIẾP

Nên nhớ trẻ sơ sinh chưa biết nói, chỉ biết khóc và cử động chân tay, thế nhưng chúng vẫn có cảm giác đau, lạnh, đói,… Nếu ai đọc những bài giải mã tiếng khóc rồi thì biết các bé khóc 2-3 tiếng một ngày là bình thường. Khi trẻ khó chịu vì điều gì, trẻ sẽ cho chúng ta tín hiệu qua các cử động cơ thể, và nhiều khi trẻ vặn mình, ưỡn người chỉ để cho chúng ta biết trẻ đang khó chịu thôi, có thể là đói, lạnh, nóng, tã ướt, tư thế không thoải mái hay chỉ là muốn được bế thôi.

Lúc này người mẹ là người có thể khám phá vì sao trẻ vặn mình: cho trẻ bú, thay tã, không quấn trẻ quá chật hay mặc quá nhiều quần áo, hay nhiệt độ quá lạnh, hay bế trẻ lên và trẻ ngưng vặn mình.

Vặn mình đơn giản là cách giao tiếp của trẻ, chỉ là chúng ta phức tạp hoá lên thôi.

2 COLIC ( Người ta hay gọi là khóc dạ đề)

Colic là một bí ẩn trong y khoa, cho đến giờ này thì người ta vẫn chưa biết rõ tại sao một số trẻ khóc nhiều như vậy. Nếu con bạn khóc hơn 6-7 tiếng một ngày trong 2 tuần, thì có khả năng là con bạn bị colic. Trong thời gian này là một cuộc chiến của gia đình và bs, bạn có thể thử đổi sữa, uống thuốc giảm ứ hơi trong ruột, uống men tiêu hoá, bế nó lên xe chạy vòng vòng, tức là muốn thử gì thì cứ thử miễn là an toàn. Khi trẻ bị colic thì khóc nhiều kèm theo vặn vẹo khó chịu.

May mắn thay là colic lành tính và hầu hết trường hợp này sẽ tự hết khi tới 4-6 tháng.

3 TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN

Nếu con bạn vặn vẹo, ưỡn người, khóc sau khi bú thì có thể bị trường hợp này. Đây là một hiện tượng sinh lý ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ hơn 1 tuổi, khi dịch vị có tính acid trong dạ dày trào ngược lên thực quản làm trẻ đau, khó chịu, trớ sữa nhiều, thở có mùi chua.

Tuỳ theo mức độ của tình trạng này mà sẽ có các biện pháp hỗ trợ, trị liệu khác nhau. Hầu hết trẻ sẽ tự khỏi trước 1 tuổi mà không cần điều trị gì.

4 NGƯNG THỞ Ở TRẺ SƠ SINH

Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thật ra không thở đều như chúng ta, do trung tâm điều hoà hô hấp của não chưa trưởng thành nên chúng thường có kiểu thở ngắt quãng. Nhịp thở thường chậm dần và ngưng trong vài giây (không quá 20 giây và không gây tím), sau đó nồng độ CO2 trong máu tăng cao, kích thích tt hô hấp làm trẻ thở lại và thở nhanh để bù vào lúc ngưng thở, sau đó lại chậm dần và ngưng thở. Chu kỳ này cứ tiếp diễn như vậy, thường khi 3-4 tháng trẻ sẽ tự hết. Một số mẹ lo lắng khi thấy con ngưng thở hay tự nhiên thở nhanh là do vấn đề này.

Ở trẻ sinh non, tình trạng này nặng hơn, có thể gây ngưng thở kéo dài gây nguy hiểm, thường được cho uống caffeine để kích thích trung tâm hô hấp.

Trong các cơn ngưng thở này, một số trẻ sẽ có tư thế ưỡn người, vặn vẹo.

Tình trạng này là sinh lý bình thường, không cần lo lắng, chỉ cần cầu cứu bs khi trẻ ngưng thở hơn 20 giây hay gây tím.

5 RỐI LOẠN TỰ KỶ

Đôi khi tình trạng này có thể là một dấu hiệu sớm của tự kỷ, khi trẻ có rối loạn về giao tiếp xã hội, hay tránh tiếp xúc thân thể và không thích hay không hiểu khi được bế. Tuy nhiên trẻ thường kèm theo các triệu chứng khác của tự kỷ như không có tiếp xúc bằng mắt, không cười, rối loạn ngôn ngữ,…. Vặn mình không phải là triệu chứng đặc hiệu của tự kỷ, nên không phải dùng để chuẩn đoán và không cần phải lo sợ khi trẻ vặn mình, trừ khi có các dấu hiệu khác kèm theo.

6 BẠI NÃO

Khi trẻ có những cơn gồng ưỡn người, ngữa đầu, duỗi chân, co tay nhiều lần, nên nghĩ tới bại não. Đây là một tình trạng tổn thương chức năng vận động của não gây nên do nhiều nguyên nhân.

Nên chú ý phản xạ mê đạo trong vài tháng đầu đời (tonic labyrinthine reflex) gần giống như tình trạng này, tuy nhiên nếu xảy ra nhiều và kéo dài sau 3-4 tháng tuổi nên nghĩ tới bại não

7 VÀNG DA NHÂN
Khi trẻ sơ sinh vàng da nặng, chất bilirubin sẽ ngấm vào mô não gây tổn thương não vĩnh viễn, gây những cơn co thắt cơ tạo ra tình trạng ưỡn người.

8 INFANTILE SPASMS
Đây là một rối loạn động kinh hiếm gặp ở trẻ dưới 1 tuổi, thường gặp ở trẻ khoảng 4 tháng tuổi nhưng có thể sớm hơn.
Dạng động kinh này không có co giật cơ toàn thân, trẻ có thể có những cơn co gồng cơ, ưỡn người nặng kéo dài và không kiểm soát được.

9 HỘI CHỨNG NHAI LẠI (RUMINATION DISORDER)

Cái này để vô đây chơi thôi chứ hiếm gặp ở trẻ nhỏ, thường gặp ở trẻ lớn hơn. Trẻ thường nuốt xong rồi trớ ngược lên, xong nhai rồi nuốt lại hay nhả ra. Khi trẻ cố gắng trớ ngược lên sẽ gây ưỡn người.
Đây là một rối loạn về ăn và hay gặp ở người có vấn đề về tâm lý như lo lắng, trầm cảm, chậm phát triển, bị bạo hành,…

Tới đây thì thấy là chuyện vặn mình ưỡn người ở trẻ nhỏ không liên quan gì tới thiếu Canxi cả, thiếu Canxi là lá bùa hay bị dán lên mấy đứa nhỏ khi không thể giải thích các câu hỏi hay lo lắng về nhiều triệu chứng ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Và chỉ có trẻ con ở VN thiếu Canxi thôi. Trẻ con ở Mỹ từ khắp nơi trên thế giới gần như không bao giờ thiếu Canxi. Tôi khám bệnh gần 10 năm ở Mỹ, chưa thấy có đứa nào được chuẩn đoán là thiếu Ca ngoại trừ mấy đứa có bệnh tuyến cận giáp.

LÀM GÌ KHI TRẺ VẶN MÌNH?

Trong các nguyên nhân kể trên thì 3 nguyên nhân đầu là hay gặp nhất, nên biện pháp tốt nhất là bình tĩnh, an ủi, ôm ấp, thay đổi tư thế, thay đổi sự chú ý của trẻ, áp dụng các biện pháp giảm trào ngược nếu có trào ngược (giữ đầu cao, vỗ ợ,..), uống vitamin F3 hỗ trợ

Hãy Inb để được Bs Nhi Khoa tư vấn cho bạn về các vấn đề bạn gặp trong quá trình chăm sóc con trẻ

Photos from BS NHI KHOA's post 02/12/2020

CHÂN VÒNG KIỀNG – BOWED LEGS – GENU VARUM

CVK rất thường gặp ở trẻ nhỏ, khi con bạn đứng thẳng hoặc nằm mà để hai chân thẳng sát vào nhau, thấy hai mắt cá chạm nhau mà hai cái đầu gối giận nhau tới nỗi cách xa nhau, hai chân cong hướng ra ngoài, thì con bạn có CVK.
Khi đi thì sẽ thấy còn rõ hơn nữa vì tướng đi khệnh khạng, đôi khi hai ngón cái hướng vào nhau khi đi.

TẠI SAO BÉ CÓ CVK?

CVK được xem là một quá trình phát triển bình thường của trẻ, đó là do khi còn trong bụng mẹ, các xương dài phải xoay và cong để bé có thể nằm vừa trong tử cung chật chội cho tới khi ra đời. Hầu hết các bé sẽ có CVK ở một mức độ nào đó, thường cả hai chân. Các bé đi sớm thì có thể thấy rõ hơn và làm tăng CVK thêm chút ít, tuy nhiên các xương này sẽ dần dần tự điều chỉnh và thẳng lại khi bé được 3-4 tuổi. Một số bé có thể kéo dài tới 7-8 tuổi.
CVK sinh lý không gây đau, không gây trở ngại vận động. Tuy nhiên sẽ ảnh hưởng đến thẩm mỹ sau này do đó hãy tập Vật lí trị liệu vận động cho trẻ để chân trẻ được thẳng lại sớm

Tuy nhiên có hai trường hợp CVK bệnh lý cần được chú ý.

BỆNH CÒI XƯƠNG – RICKETS

Đây là một bệnh gây ra do thiếu vitamin D kéo dài, khiến cơ thể không thể hấp thụ Ca và vận chuyển Ca và P vào xương, khiến xương yếu và bị cong. Ngoài CVK còn có các bất thường của xương các vùng khác như xương cổ tay, xương sườn, đau xương, yếu cơ.
Ngày nay bệnh còi xương hiếm gặp ở các nước phát triển vì thực phẩm được bổ sung vit D khá nhiều, chủ yếu là gặp ở các bé có bệnh bẩm sinh gây rối loạn hấp thu và chuyển hóa vit D.
Bệnh còi xương do dinh dưỡng có thể gặp ở các nước nghèo, ở trẻ bú mẹ hoàn toàn và thiếu ăn, không được bổ sung vitamin D. Ngoài ra còn hay gặp ở dân tộc da sậm màu, trẻ sống ở vùng xa xích đạo thiếu ánh nắng, trẻ sinh non, mẹ thiếu vit D khi mang thai, uống thuốc chống động kinh hay thuốc kháng virus HIV.

BỆNH BLOUNT

Đây là một bệnh gây ra do sự tổn thương và phát triển không bình thường của đĩa sụn tăng trưởng của đầu trên xương chày .
Xương trẻ em chưa hoàn toàn cốt hóa mà có đĩa sụn tăng trưởng ở hai đầu, đĩa này cứ từ từ cốt hóa thành xương khiến xương dài ra, khi dậy thì xong thì cốt hóa hoàn toàn và xương không dài ra thêm nữa.
Các trẻ bị bệnh này có tổn thương sụn tăng trưởng ở phía trong xương chày, khiến xương chày phát triển bất đối xứng, bên ngoài dài nhanh hơn bên trong, gây gập góc và biến dạng xương chày. Thông thường là một bên, tuy nhiên có thể hai bên.
Các trẻ có thể nguy cơ bị bệnh này:
- Trẻ béo phì
- Trẻ đi sớm
- Có yếu tố gia đình (di truyền)
Bệnh này không tự hết mà phải được điều trị bởi bs chuyên khoa chỉnh hình

Hãy inb để được Bs tư vấn về các vấn đề trong quá trình chăm sóc con trẻ

Photos from BS NHI KHOA's post 27/11/2020

Phụ nữ sinh ra đã khổ. Các mẹ đừng tự làm khổ mình thêm nhé
Xi tè cho con là 1 việc không nên làm
Rất nhiều bé hiện gặp các vấn đề về như táo bón, tiểu dầm....nguyên nhân 1 phần là do xi tè
Các mẹ hãy lưu ý và đọc hết bài nhé




Inb để được Bs Nhi tư vấn về cách chăm con 1 cách khoa học nhé

26/11/2020

RỐI LOẠN TIÊU HÓA VÀ CÁC QUAN ĐIỂM SAI CẦN KHẮC PHỤC
Em bé ăn tốt và tiêu hóa tốt sẽ giúp phát triển thể chất tốt lẫn tinh thần. Do đó các mẹ hãy đọc bài để có được kiến thức chuẩn khi chăm con nhé!
Sau đây là những hiểu lầm phổ biến nhất về táo bón

1. Trẻ sơ sinh cần phải đi tiêu mỗi ngày.
Trẻ nhỏ và trẻ em có thể đi tiêu cách ngày hoặc thậm chí 2-3 lần một tuần. Miễn là các bé thoải mái, phát triển tốt và phân không cứng thì tần suất này vẫn được xem là bình thường và chấp nhận được.

2. Cần chụp X quang bụng không chuẩn bị khi khám định kỳ trẻ táo bón.
Không có chỉ định chụp X quang bụng không chuẩn bị để chẩn đoán táo bón cơ năng. Tuy nhiên, nên chụp X quang trong trường hợp không thể khám lâm sàng hoặc kết quả khám không đáng tin cậy và cho những ca nghi ngờ bé bị tắc nghẽn phân.

3. Tăng lượng nước uống có thể giúp điều trị chứng táo bón.
Đáng tiếc là chưa từng có bằng chứng cho thấy phương pháp này hiệu quả. Các hướng dẫn hiện hành đều khuyến nghị chỉ duy trì lượng nước uống bình thường tương ứng với độ tuổi, ngay cả đối với trẻ em bị táo bón.

4. Khuyến khích pha loãng sữa đối với nhũ nhi đang dùng sữa công thức.
Phương pháp này chưa được kiểm chứng là đảm bảo cả về hiệu quả lẫn an toàn. Cách này có thể gây nguy hiểm với lượng dinh dưỡng mà nhũ nhi nạp vào.

5. Có thể thường xuyên dùng thuốc đạn để kích thích đi tiêu.
Cách này có thể nguy hiểm, gây phụ thuộc thuốc và chấn thương. Thuốc có thể giúp làm mềm phân còn sót nhưng không nên dùng hàng ngày.

6. Thường xuyên sử dụng thuốc nhuận tràng (lactulose) nguy hiểm vì có thể gây phụ thuộc thuốc.
Lactulose an toàn và hiệu quả nếu sử dụng đúng lúc và đủ liều. Lactulose có thể sử dụng trong thời gian dài cho đến khi chữa dứt táo bón.

7. Táo bón nguy hiểm vì có khả năng dẫn đến thủng ruột hoặc hấp thu độc tố, từ đó gây tử vong.
Chưa từng có bằng chứng là những hậu quả tiềm năng này của táo bón có thể xảy ra. Hiểu lầm này có thể gây ra sợ hãi, lo lắng không cần thiết, dẫn đến xử lý vấn đề một cách sai lầm.

8. Khuyến cáo tập cho trẻ tự đi vệ sinh từ năm 1 tuổi để ngăn ngừa táo bón.
Mặc dù tập kỹ năng tự đi vệ sinh cho trẻ là rất quan trọng trong việc phòng chống táo bón cơ năng, việc tập hàng ngày cho tất cả trẻ em một tuổi lại có thể gây hại.
Thời điểm bắt đầu tập cho trẻ được quyết định dựa mức độ sẵn sàng trong quá trình phát triển của trẻ. Trẻ có thể sẵn sàng vào khoảng giữa 2-4 tuổi, khi đã thu được các thông số đánh giá mức độ hoạt động và hành vi của trẻ.

Hãy inb để được Bs Nhi tư vấn về cách chăm sóc bé

23/11/2020

Rất nhiều mẹ băn khoăn việc có sử dụng máy điều hòa cho bé được không?
Câu trả lời là có nhé! Tuy nhiên sức đề kháng của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ còn yếu nên nằm điều hòa không đúng cách sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe. Do đó các mẹ hãy lưu ý để sử dụng điều hòa an toàn cho bé yêu:

1. Nhiệt độ thích hợp:

Trẻ nhỏ rất dễ bị nhiễm lạnh do đã quen với môi trường trong bụng mẹ (từ 37,5 - 380C) nên cần điều chỉnh nhiệt độ phòng từ 27-28oC vào ban ngày & 28-29oC vào ban đêm.

2. Chú ý quần áo trẻ:

Nên cho trẻ mặc quần áo, mang bao tay, vớ chân, đội mũ và đắp chăn mỏng khi nằm điều hòa (ở nhiệt độ nói trên); chú ý thay tã thường xuyên để tránh bị cảm lạnh.

3. Không nên nằm điều hòa quá 4 giờ:

Ngoài giấc ngủ của trẻ sơ sinh vào ban đêm, không nên cho trẻ nằm điều hòa quá 4 giờ liên tục trong ngày. Sau khoảng 4 giờ, mẹ cho bé ra ngoài nhiệt độ bình thường trong 10-15 phút.

4. Kiểm tra thân nhiệt:

Kiểm tra thân nhiệt của trẻ bằng nhiệt kế, nếu thấy trẻ ra mồ hôi thì cần lau khô, đặc biệt là vùng lưng, nếu không trẻ có thể sẽ bị nhiễm bệnh về đường hô hấp.

5. Không thay đổi nhiệt độ đột ngột:

Để tránh thay đổi nhiệt độ đột ngột, mẹ nên mở của trước 10 phút để trẻ quen dần với không khí bên ngoài

Hãy inb để được BS tư vấn về những khó khăn trong quá trình chăm sóc bé của bạn

Want your business to be the top-listed Beauty Salon in Ho Chi Minh City?
Click here to claim your Sponsored Listing.

Category

Website

Address

Ho Chi Minh City