Trường Sinh

Trường Sinh

Share

nơi mọi người thân yêu cùng nhau chia sẻ kiến thức chăm sóc sức khỏe để được yêu thương, được bên nhau lâu hơn nhé cả nhà.

10/22/2024

Thấu hiểu các giai đoạn của cuộc đời và trưởng thành hơn mỗi ngày.

Khổng Tử từng nói: “Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tòng tâm sở dục bất du củ”, ý rằng: “Ta 15 tuổi chí ở học hành, 30 tuổi có thể tự lập, 40 tuổi không còn nghi hoặc, 50 tuổi biết được mệnh Trời, 60 tuổi ta biết điều phải trái, 70 tuổi tâm theo ý mình, có thể làm một cách tùy ý nhưng lại không vượt quá quy tắc”.

Đây là tổng kết của Khổng Tử về cuộc đời mình, cũng là tấm gương cho những ai muốn theo đuổi một cuộc đời hoàn mỹ, đặc biệt là sau tuổi 30. Vậy thì khi đến ngưỡng 30 tuổi, 40 tuổi, 50 tuổi, 60 tuổi, 70 tuổi, chúng ta cần sống như thế nào?

1. Tam thập nhi lập: 30 tuổi có thể tự lập

30 tuổi là ngọn núi chia đôi dòng nước, chia đôi ngã rẽ của đời người. Con người ở độ tuổi này về cơ bản đã có thể xác lập được phương hướng phát triển cuộc đời mình. Họ cũng có thể dựa vào bản lĩnh của tự thân mà gánh vác những trách nhiệm mình cần đảm đương.

“Nhi lập” ở đây là lập thân, lập gia, lập nghiệp.

Lập thân là xác lập nhân cách và sự tu dưỡng của bản thân. Điều này bao gồm việc tu dưỡng trong tư tưởng và hàm dưỡng đạo đức, bồi dưỡng năng lực và có thể tự lực tự cường. Trong đó sự tự cường là cái gốc lập thân, là yêu cầu cơ bản nhất khi mỗi người muốn đứng vững trong xã hội.

Lập nghiệp là xác lập công danh, sự nghiệp mà mình muốn theo đuổi. Người 30 tuổi nên có nghề nghiệp vững chắc. Dẫu theo đuổi bất kỳ công việc nào cũng cần có một năng lực nhất định. Nói theo cách hiện đại chính là có một sở trường về kỹ năng nào đó. Lập nghiệp là phương thức mưu sinh, là cơ sở để độc lập về kinh tế. Đây cũng là quá trình con người ắt phải trải qua để thực hiện giá trị nhân sinh.

Lập gia là lập gia đình. Xã hội cạnh tranh mạnh mẽ ngày nay đã kéo dài tuổi lập gia đình của những người trẻ. Nhưng đứng từ góc độ sinh sôi nảy nở của nhân loại mà nói thì độ tuổi này lại rất phù hợp. Hơn nữa con người khi đến 30 tuổi sẽ hiểu rõ về hôn nhân và trách nhiệm.

Ý nghĩa của gia đình là tổ ấm. Lập gia đình thì tâm hồn mới tìm được bến đỗ bình yên để ngơi nghỉ. Còn về trình tự lập nghiệp và lập gia đình, do tình huống của mỗi người mỗi khác, nên chúng ta không phải câu nệ thứ tự trước sau, mà hai điều này đều tương trợ cho nhau.

2. Tứ thập nhi bất hoặc: 40 tuổi không còn mê hoặc

40 tuổi là độ tuổi dùng điều bất biến để ứng vạn biến, là độ tuổi có thể nhìn thấu vạn vật trên thế gian, cũng là độ tuổi trưởng thành. “Bất hoặc” tức là tỉnh táo, là minh bạch về bản thân, về người khác và về thế giới.

Con người sống trong xã hội thì không thể tách khỏi xã hội. Mối quan hệ giữa con người và xã hội là mối quan hệ giữa cá thể và quần thể. Cá thể là một phần tử trong quần thể. Lý tưởng và nguyện vọng của một cá nhân phải được kiến lập dựa trên cơ sở của một xã hội hiện thực. Trong tâm cần có một sức mạnh điềm nhiên khi ứng phó với thế giới bên ngoài.

40 tuổi là thời kỳ huy hoàng trong đời người, cũng là thời kỳ có cống hiến lớn nhất cho gia đình và xã hội.

Hiểu thấu bản thân mình

Chính là khiến nội tâm mình dần dần trở nên lớn mạnh trong quá trình tôi luyện, biến những thứ bên ngoài trở thành năng lượng bên trong. Người 40 tuổi là người có độ tuổi thực tế nhất, không nên phạm quá nhiều sai lầm và đi đường vòng.

Hiểu rõ trách nhiệm của bản thân
Đặc điểm lớn nhất của người 40 tuổi là hiểu rõ trách nhiệm của bản thân mình. Họ phải gánh vác trách nhiệm xã hội, trách nhiệm gia đình, hiếu thuận với cha mẹ, và chịu trách nhiệm dưỡng dục con cái.

40 tuổi là thời kỳ huy hoàng trong đời người, cũng là thời kỳ có cống hiến lớn nhất cho gia đình và xã hội.

3. Ngũ thập nhi tri thiên mệnh: 50 tuổi biết được mệnh Trời

Mệnh Trời còn gọi là số mệnh, 50 tuổi biết mệnh Trời. Người 50 tuổi đã tới giai đoạn chín muồi trong cuộc đời. Lúc này có rất nhiều việc trong đời dường như đã thành hình.

Người 50 tuổi hiểu biết hơn về xã hội nên càng thấu hiểu bản thân hơn. Họ học được cách thản nhiên đối mặt với mọi việc. Họ không oán Trời, không trách người, không lười nhác.

Hiểu về thiên mệnh

Người 50 tuổi sức khỏe không còn như trước. Họ càng hiểu rõ hơn về sự yếu nhược của sinh mệnh, hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của sức khỏe. Sức khỏe là vốn liếng của sinh mệnh. Không khi nào con người lại có trải nghiệm sâu sắc như thế về sức khỏe như ở độ tuổi này. Họ sẽ chú trọng tới việc dưỡng sinh hơn trước và bắt đầu tích cực rèn luyện.

Người 50 tuổi đã có sự đánh giá khá chuẩn xác về bản thân mình. Họ rất ít khi dao động, khiến tâm trạng lên lên xuống xuống vì một chuyện gì đó. Trải qua bao nhiêu năm vất vả họ cũng có một điều kiện kinh tế nhất định, tham vọng tiền tài cũng không còn mạnh mẽ như khi còn trẻ nữa.

Biết trân trọng tình cảm

Người 50 tuổi đã trải qua sự gột rửa của thời gian. Họ sẽ biết trân quý hơn người bạn đời đồng cam cộng khổ trong đời mình, biết trân trọng hơn đứa con đã trưởng thành và những người bạn cũ luôn kề vai sát cánh bấy lâu nay… Tình thân, tình bạn, tình yêu, những điều này dần sẽ trở thành những điều quan trọng trong số những điều được coi trọng trong lòng họ. Tâm danh lợi của họ cũng dần tiêu tan.

4. Lục thập nhi nhĩ thuận: 60 tuổi tai biết điều phải trái

Tới khi 60 tuổi, dẫu cho ai nói ngả nói nghiêng, dù gặp phải trắc trở, khó khăn thế nào thì con người cũng đều không quá kích động. Họ có thể suy nghĩ mọi sự một cách điềm tĩnh và thuận theo quy luật của sự vật. Họ có thể thản nhiên trước vinh nhục, ngộ ra ý nghĩa đời người, nhìn thấu kiếp nhân sinh và coi nhẹ danh lợi.

60 tuổi nhìn thấu kiếp nhân sinh

Từ khi nghỉ hưu, họ chuyển từ vai trò chính ngoài xã hội về với vai trò chính trong gia đình, vui hưởng đạo cùng trời đất. Người 60 tuổi đã minh bạch những điều này, nên có thể vui vẻ tiếp nhận cuộc sống hiện thực và hiểu rõ cuộc sống nên có của một người ở độ tuổi này.

60 tuổi nhìn thấu sinh mệnh

Người 60 tuổi phải sống thật mạnh khỏe, vui vẻ, điều này cũng là một sự cống hiến đối với xã hội. Ý nghĩa của sinh mệnh là nghĩ cho người khác nhiều hơn là đòi hỏi cho riêng mình. Khi bạn đã làm được thì cũng không còn gì phải nuối tiếc nữa.

Người 60 tuổi nhìn thấu danh lợi, nhờ trải qua sự tôi luyện của tháng năm mà lưu lại những kinh nghiệm phong phú của bản thân mình.

Trong cuộc sống nhàn nhã, họ thường hồi tưởng về những ký ức đắng cay ngọt bùi như một trải nghiệm đặc biệt trong mùa thu cuối đời. Khi đã về hưu thì họ chỉ còn sót lại một danh xưng: “Người về hưu”. Lúc này duy chỉ có sức khỏe là của bản thân mình. Vậy nên giữ gìn chăm sóc sức khỏe cho mình, sống mạnh khỏe, hạnh phúc mới là điều quan trọng nhất.

5. Thất thập tòng tâm sở dục: 70 tuổi tâm theo ý mình

Người 70 tuổi có thể muốn gì làm nấy theo cách nghĩ của mình. Họ biết cách sống thuận theo tự nhiên, thích ứng với mọi hoàn cảnh, cũng không được vượt quá quy củ.

Cơm ăn không quan trọng cao lương mỹ vị hay đạm bạc đơn sơ, chỉ cần thấy ngon miệng là được. Phòng ốc không quan trọng lớn hay nhỏ, chỉ cần sống vui vẻ là được. Hãy làm những chuyện bản thân thấy hứng thú, đừng oán người, trách trời, trách đất, cũng đừng để tâm lo nghĩ quá mức tới người khác. Thấy sức khỏe suy giảm từng ngày cũng đừng hoảng hốt, thấy cái chết cận kề mỗi ngày cũng đừng khiếp sợ. Mọi thứ cứ thuận theo tự nhiên, tùy cảnh mà an.

Mỗi giai đoạn trong đời người đều có những trải nghiệm riêng trong từng giai đoạn ấy. Chúng ta không nhất định cứ phải làm theo một thước đo hay một chuẩn mực nào đó. Nhưng mỗi một giai đoạn chúng ta đều nên có sự kỳ vọng về bản thân mình. Tệ nhất thì 10 năm một lần chúng ta cũng nên ngẫm nghĩ lại về bản thân. Những điều không thể quên chính là hồi ức, nhưng điều vẫn tiếp diễn là cuộc sống. Hãy sống hết mình mỗi ngày để có thể sống trọn vẹn cả một đời.

Theo ĐKN

11/07/2022

TRƯỜNG SINH xin được giới thiệu bài viết “Nam dược trị Nam nhân” - quan điểm lớn của đại danh y Tuệ Tĩnh có giá trị thiết thực cho sức khỏe dân Việt.

“Nam dược trị Nam nhân” có nghĩa là: Dùng thuốc Việt Nam chữa bệnh cho người Việt Nam. Đây là quan điểm cốt lõi có giá trị đặc biệt quan trọng trong ứng dụng chữa bệnh, được lưu truyền trong y văn mà đại danh y Tuệ Tĩnh đã để lại cho hậu thế cách đây 700 năm.

VỀ QUAN ĐIỂM “NAM DƯỢC TRỊ NAM NHÂN” CỦA TUỆ TĨNH

Gốc gác của đông y là do người TQ, dùng sách TQ và thuốc TQ đem sang chữa bệnh cho người Việt. Bản chất là gia truyền, bí truyền, không để lọt kiến thức, không tiết lộ cho người ngoài biết về kinh nghiệm bào chế thuốc, phương chữa và bài thuốc chữa bệnh. Ngày xưa khi lâm bệnh nếu không mời được thầy tàu, không có tiền mua thuốc bắc là bệnh nhân chỉ còn nước bó tay mà chịu chết.

Đối với Tuệ Tĩnh, không chỉ học y, không chỉ chữa bệnh cứu người mà ông có một quan điểm rất tiến bộ, giàu lòng nhân ái, giàu tính nhân văn, đó là:

Dùng thuốc Việt Nam chữa bệnh cho người Việt Nam, đối với Tuệ Tĩnh sách TQ thì ông học nhưng ông thoát ly khỏi thầy TQ, thuốc TQ, bí quyết của người TQ. Vì ông nhận thấy những vị thuốc phải mua từ Trung Quốc thì ở Việt Nam cũng có rất nhiều cây thuốc thảo dược, nhiều loại động vật, khoáng vật cung cấp vị thuốc không kém gì giá trị chữa bệnh so với thuốc đem sang từ Trung Quốc.

Viết sách để lưu truyền và hướng dẫn sử dụng những bài thuốc nam đến với nhân dân là một chủ trương của Tuệ Tĩnh.

Ông dạy nhân dân cách trồng thuốc chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, phòng tránh bệnh tật. Đây là tư tưởng cực kỳ tiến bộ, sử dụng thảo dược thiên nhiên, phát huy thế mạnh của toàn dân để chăm sóc, bảo vệ sức khỏe.

Ông phân tích về dược lý, hướng dẫn điều trị từ 630 vị thuốc để chữa các bệnh thường gặp.

Ông cũng phân tích: Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm thường xuyên, chính vì thế mà người dân thường mắc các bệnh thiên về nhiệt (nóng), phong (gió), hàn (lạnh), thấp (ẩm) hoặc khí hư yếu nên cần tìm những cây thuốc, bài thuốc đông y, điều trị tả hỏa, hóa đàm, trừ phong thấp, thanh nhiệt giải độc...

Ông là lương y nổi tiếng thương người bệnh, y đức sáng ngời, do vậy ông luôn cố gắng tìm cách chữa bệnh cho nhiều người, ông dày công kiếm tìm những cây thuốc, vị thuốc để đưa vào chữa bệnh.

Ông còn kết hợp sử dụng và hướng dẫn các phương pháp như xoa bóp, châm cứu, bấm huyệt, xông hơi, ngâm chân... giúp người dân tự chữa bệnh mà không tốn kém.

KHO BÁU KIẾN THỨC CỦA ĐẠI DANH Y TUỆ TĨNH ĐỂ LẠI

- Nổi tiếng nhất là bộ sách “Nam dược thần hiệu” với 10 chương chính, bộ sách - Hồng Nghĩa giác tư y thư (2 quyển), bản thảo 500 vị thuốc nam.

- Bài Phú thuốc nam 630 vị thuốc.

- Một số bộ sách khác như “Dược tính chỉ nam” và “Thập tam phương gia giảm”... tuy nhiên bộ sách này không còn nguyên vẹn do giặc ngoại xâm sang chiếm nước ta phá hủy.

- Đặc biệt, đại danh y Tuệ Tĩnh còn tự mình truyền bá những phương pháp điều trị bệnh trong các thôn xóm và nhà chùa. Ông đã xây dựng được 24 ngôi chùa và cơ sở chữa bệnh, tổng hợp được 182 các bệnh với 3.873 bài thuốc.

- Ông để lại hai câu thơ nổi tiếng như một lời tuyên ngôn về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe là: “Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần - Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình”.

TIẾP TỤC PHÁT HUY “NAM DƯỢC TRỊ NAM NHÂN” CỦA ĐẠI DANH Y TUỆ TĨNH

1. Với nhiều bệnh có thể tự chữa (Thầy tại nhà, thuốc tại vườn).

Thực tế cho thấy có rất nhiều loại cây thuốc, vị thuốc ta có thể tự trồng và thu hái được, tự bào chế được dùng để chữa bệnh ngay tại nhà.

Điều này đã được Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi nghiên cứu và xuất bản cuốn sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” giúp chúng ta biết được tính dược, tác dụng và liều dùng của rất nhiều cây thuốc, vị thuốc ứng dụng vào chữa bệnh.

2. Những kiến thức kinh nghiệm y học thường thức về sử dụng cây thuốc, vị thuốc, xoa bóp bấm huyệt, tập thiền, tập yoga, tập dưỡng sinh... đều là phương thuốc chữa bệnh hữu hiệu nhằm bảo vệ, nâng cao sức khỏe.
Mỗi chúng ta nên tiếp cận, ứng dụng, chia sẻ cho nhiều người cùng biết cùng thực hiện theo đúng quan điểm và phương châm của Tuệ Tĩnh.

3. Mỗi gia đình nên trồng một số cây thuốc nam, nhớ kỹ tác dụng của chúng, khi cần có thể dùng ngay cho chính bản thân mình và gia đình.

Ví dụ một bài thuốc thanh nhiệt giải độc rất đơn giản hiệu quả: Trẻ em, kể cả người lớn vào mùa hè hay bị mụn rôm, mụn nhọt, nóng, ngứa ngáy, bứt rứt khó chịu, thì ngay vào đầu mùa hè dùng bài thuốc nam:

Lá bồ công anh sao vàng (1 nắm);

Đỗ đen xanh lòng sao vàng (1 nắm);

Dây kim ngân sao vàng (1 nắm);

Cam thảo nam (1 nhúm) nếu không có cam thảo nam thì cho vài lát cam thảo khô.

Tất cả cho vào ấm tráng một lượt nước sạch rồi đổ 2,5 lít nước, đun sôi cho cạn, còn khoảng 2 lít, để nguội uống thay nước trong ngày, cuối ngày nếu còn cũng đổ đi, hôm sau đun ấm khác, uống liên tục ngay đầu mùa hè sẽ hết rôm nhọt, hết nóng ngứa.

Bác sĩ Bùi Vũ Khúc

Photos from Trường Sinh's post 03/23/2022

Hôm nay ta cùng bổ sung trụ cột năng lượng thứ 6: KIẾN THỨC. Chủ đề "ung thư: Lầm tưởng & Sự thật"

Khi nói đến ung thư, có nhiều câu chuyện và lầm tưởng chưa được chứng minh về căn bệnh này đến mức có thể rất khó để phân biệt đâu là sự thật và đâu là hư cấu. Hãy xem xét một số sai lầm phổ biến về ung thư và sự thật đằng sau những lầm tưởng này.

1. LẦM TƯỞNG: Các loại siêu thực phẩm có tác dụng ngăn ngừa ung thư

SỰ THẬT: Một số loại thực phẩm như việt quất, củ cải đường, bông cải xanh, tỏi và trà xanh được biết đến như những siêu thực phẩm có tác dụng ngăn ngừa ung thư. Dĩ nhiên đây đều là những thực phẩm tốt cho sức khỏe và được biết đến là có tác dụng tích cực trong quá trình chống lại ung thư, ví dụ như chứa các chất chống ôxy hóa hoặc giúp bỏ các yếu tố độc hại trong cơ thể. Tuy nhiên, sẽ thật ngây thơ nếu xem bất kỳ loại thực phẩm cụ thể nào như một biện pháp bảo vệ chống lại ung thư. Mỗi người có đặc điểm cơ thể khác nhau và ung thư phản ứng khác nhau ở mỗi người. Không một thực phẩm đơn lẻ hoặc nhóm thực phẩm nào có thể đủ khả năng bảo vệ chống lại ung thư.

Nguồn: 10 Persistent Cancer Myths Debunked, Cancer Research UK (Hé lộ 10 lầm tưởng bấy lâu về bệnh ung thư, Tổ chức Nghiên cứu Ung thư Vương Quốc Anh)

2. LẦM TƯỞNG: Điều trị ung thư gây đau nhiều hơn là chữa khỏi

SỰ THẬT: Lầm tưởng này có thể xuất phát từ những tác dụng phụ cực nặng mà mọi người thấy được ở các bệnh nhân ung thư trải qua hóa trị và xạ trị, tuy nhiên, có quan niệm cho rằng các phương pháp điều trị ung thư thông thường rất có hại cho cơ thể và đôi khi có thể gây ra nhiều tổn thương hơn bản thân bệnh ung thư. Cũng có người tin rằng những phương pháp điều trị này không có tác dụng gì trong việc chữa khỏi bệnh ung thư mà chỉ gây ra sự khó chịu nặng nề trước khi bệnh nhân tử vong vì ung thư.

Một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn đến lầm tưởng này là vì nhiều trường hợp ung thư được phát hiện ở giai đoạn muộn và thường đòi hỏi phải thực hiện liệu trình điều trị tấn công để có cơ hội hồi phục. Khi ung thư đã ở giai đoạn muộn, bệnh sẽ lan rộng ra các vị trí khác trên cơ thể và thường khiến cho tỷ lệ sống sót giảm còn rất thấp. Thực tế này, cùng những tác dụng phụ nặng nề đi kèm với liệu pháp hóa trị và xạ trị tấn công, khiến nhiều người nghi ngờ về tính hiệu quả của các phương pháp điều trị ung thư thông thường. Trên thực tế, nếu ung thư được chẩn đoán ở giai đoạn sớm, tỷ lệ thành công khi điều trị bằng phương pháp thông thường có xu hướng cao hơn. Những người lo ngại về các tác dụng phụ cần cân bằng giữa tầm quan trọng của việc kéo dài tuổi thọ với chất lượng cuộc sống khi đưa ra quyết định về phương pháp điều trị.

Nguồn: 10 Persistent Cancer Myths Debunked, Cancer Research UK (Hé lộ 10 lầm tưởng bấy lâu về bệnh ung thư, Tổ chức Nghiên cứu Ung thư Vương Quốc Anh)

3. LẦM TƯỞNG: Điện thoại di động, máy vi tính và lò vi sóng phát ra bức xạ gây ung thư

SỰ THẬT: Có thể dễ thấy được lầm tưởng này bắt nguồn từ đâu. Khi phát hiện ra rằng mây bụi phóng xạ từ bom nguyên tử trong Thế chiến thứ 2 và thảm họa nóng chảy hạt nhân Chernobyl đã dẫn đến nhiều ca ung thư do phóng xạ, con người bắt đầu cho rằng phóng xạ có mối liên hệ với ung thư. Sự thật là điện thoại di động, máy vi tính và lò vi sóng chỉ sử dụng sóng vô tuyến tần số thấp, do đó không làm tổn thương gen và không gây ung thư. Nhiều người không biết rằng thực ra có rất nhiều bức xạ nền trong môi trường xung quanh chúng ta và chúng chưa được chứng minh là có khả năng gây ung thư. Con người cần thận trọng khi ở trong một số khu vực có lượng phóng xạ cao, ví dụ như trong phòng chụp X-quang hoặc ở một số khu công nghiệp. Những khu vực này thường có yêu cầu hạn chế tiếp cận và được đánh dấu bằng biển báo “mối nguy phóng xạ”.

Nguồn: Common Cancer Myths and Misconceptions, National Cancer Institute (Những lầm tưởng và quan niệm sai lầm phổ biến về ung thư, Viện Ung thư Quốc gia)

4. LẦM TƯỞNG: Nhuộm tóc có thể gây ung thư

SỰ THẬT: Đây là một lầm tưởng kỳ lạ nhưng có một phần nguồn gốc là sự thật. Một phần của lầm tưởng này bắt nguồn từ các nghiên cứu được tiến hành từ nhiều thập kỷ trước, khi thông tin về nguyên nhân ung thư ít phổ biến hơn, trong đó một số loại hóa chất sử dụng trong thuốc nhuộm tóc được phát hiện là có khả năng gây ung thư khi thử nghiệm trên động vật. Kể từ những năm 1970, hầu hết các loại hóa chất này đã được loại bỏ khỏi thuốc nhuộm tóc và các nghiên cứu hiện đại phát hiện ra rằng những người nhuộm tóc không hề bị tăng nguy cơ mắc ung thư.

Nguồn: Hair Dyes and Cancer Risk, National Cancer Institute (Thuốc nhuộm tóc và nguy cơ mắc ung thư, Viện Ung thư Quốc gia)

5. LẦM TƯỞNG: Tất cả các loại ung thư đều giống nhau và có thể được điều trị theo cùng một cách

SỰ THẬT: Ung thư là tên gọi một nhóm các bệnh có chung đặc điểm là tế bào phân chia không kiểm soát và lan rộng ra các mô xung quanh. Ung thư không chỉ bao gồm hơn 100 loại mà mỗi loại ung thư còn phản ứng khác nhau ở những người khác nhau. Ngay cả đối với những người mắc cùng một loại u ở cùng một bộ phận cơ thể, những thay đổi về gen khác nhau có thể ảnh hưởng đến ung thư và cần được điều trị bằng những phương pháp khác nhau.

Đây là lý do vì sao gần như không thể có “phương pháp chữa khỏi siêu việt” đối với bệnh ung thư, và cũng giúp giải thích tại sao ngay cả phác đồ điều trị kết hợp tối ưu nhất cho từng bệnh nhân có thể mang lại những kết quả rất khác nhau. Một phác đồ điều trị ung thư thành công thường đòi hỏi phải có một đội ngũ y tế tận tâm và giàu kinh nghiệm có khả năng tìm hiểu các lựa chọn và vạch ra lộ trình hồi phục tối ưu nhất.

Nguồn: Top 10 Misconceptions about Cancer, Listverse (10 quan niệm sai lầm phổ biến nhất về ung thư, Listverse)

6. LẦM TƯỞNG: Ung thư gây ra nhiều đau đớn

SỰ THẬT: Thực ra, ung thư rất hiếm khi gây đau. Một trong những vấn đề lớn nhất là nhiều loại ung thư có thể có rất ít hoặc không có triệu chứng, và việc chẩn đoán chỉ được thực hiện khi ung thư đã ở giai đoạn tiến triển muộn hơn. Hầu hết những cơn đau mà mọi người cho là do ung thư thực ra là cảm giác khó chịu gây ra bởi tác dụng phụ của các phương pháp điều trị ung thư như hóa trị và xạ trị. Có thể giảm nhẹ triệu chứng đau này bằng cách dùng thuốc và các kỹ thuật kiểm soát đau khác.

Đôi khi, con người chỉ chú ý đến những trường hợp tệ nhất mà họ thấy. Trên thực tế, nhiều bệnh nhân ung thư có thể tiến hành điều trị ngoại trú và đồng thời tiếp tục thực hiện các hoạt động thường ngày. Những người khác nhau sẽ có phản ứng khác nhau với các liệu trình điều trị khác nhau, và bác sĩ chuyên khoa ung thư có thể xác định được phương pháp điều trị cụ thể ít gây khó chịu nhất cho bệnh nhân.

Nguồn: 9 Common Cancer Myths, American Society of Clinical Oncology (9 lầm tưởng thường gặp về ung thư, Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Hoa Kỳ)

7. LẦM TƯỞNG: Chỉ những người hút thuốc mới mắc ung thư phổi

SỰ THẬT: Người hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư phổi rất cao, tuy nhiên, họ không phải là những đối tượng duy nhất có nguy cơ. Cấu tạo gen hoặc tiền sử gia đình có thể ảnh hưởng đến nguy cơ mắc ung thư phổi. Phơi nhiễm với các chất như amiăng, radon, urani, asen và khói thuốc thụ động cũng có thể làm tăng khả năng phát triển ung thư phổi. Cũng có những trường hợp mắc ung thư phổi do sẹo trong mô phổi gây ra bởi các bệnh lý và/hoặc tình trạng nhiễm trùng trước đó.

Nguồn: 10 Myths about Cancer Busted, The Health Site (Xóa tan 10 lầm tưởng về ung thư, The Health Site)

8. LẦM TƯỞNG: Đường khiến ung thư trở nên trầm trọng hơn

SỰ THẬT: Lầm tưởng này có khả năng dựa trên một nghiên cứu cho thấy tế bào ung thư tiêu thụ nhiều glucô (đường) hơn tế bào bình thường. Do đó, một số người kết luận rằng đường là chất “nuôi dưỡng” hiệu quả cho ung thư, từ đó dẫn đến quan niệm cho rằng giảm lượng đường nạp vào có thể khiến các tế bào ung thư “chết đói”.

Tất cả các tế bào của chúng ta đều tiêu thụ glucô để sản sinh năng lượng, bất kể chúng có phải tế bào ung thư hay không. Tế bào ung thư có xu hướng tiêu thụ nhiều năng lượng hơn do chúng tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với tế bào bình thường, vì vậy lượng đường tiêu thụ cũng cao hơn. Hiện vẫn chưa có bằng chứng chứng minh việc tiêu thụ đường sẽ “nuôi dưỡng” các tế bào ung thư cụ thể, hay việc giảm lượng đường nạp vào sẽ làm chậm sự phát triển của ung thư.

Nguồn: 10 Persistent Cancer Myths Debunked, Cancer Research UK (Hé lộ 10 lầm tưởng bấy lâu về bệnh ung thư, Tổ chức Nghiên cứu Ung thư Vương Quốc Anh)

9. LẦM TƯỞNG: Nếu gia đình không có tiền sử ung thư, bạn sẽ không bị mắc bệnh

SỰ THẬT: Do ung thư chủ yếu gây ra bởi các khiếm khuyết di truyền trong ADN nên nhiều người tin rằng nếu gia đình không có tiền sử ung thư thì đồng nghĩa với việc họ gần như không có nguy cơ phát triển bệnh. Trên thực tế, chỉ có khoảng 5 - 10% số trường hợp ung thư xảy ra do đột biến gen di truyền. 90 - 95% số trường hợp còn lại xảy ra do thói quen sinh hoạt cá nhân và môi trường, ví dụ như thói quen hút thuốc hoặc phơi nhiễm với hóa chất gây ung thư. Tuy nhiên, những người có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư vẫn nên thực hiện tầm soát định kỳ và duy trì thói quen sinh hoạt lành mạnh vì họ có nguy cơ phát triển ung thư cao hơn.

Nguồn: 9 Common Cancer Myths, American Society of Clinical Oncology (9 lầm tưởng thường gặp về ung thư, Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Hoa Kỳ)

10. LẦM TƯỞNG: Ung thư là bệnh của thời hiện đại

SỰ THẬT: Ung thư mới chỉ bắt đầu được nhiều người biết đến từ khoảng thế kỷ trước, và nhiều người đã hình thành ý niệm rằng ung thư là bệnh xảy ra do quá trình hiện đại hóa và công nghệ. Một số người đổ lỗi cho sóng vô tuyến và bức xạ từ các thiết bị hiện đại như đài, tivi, máy vi tính, điện thoại di động và lò vi sóng, trong khi những người khác khẳng định rằng các thử nghiệm năng lượng và vũ khí hạt nhân đã khiến cho bệnh ung thư lan rộng.

Thực tế là ung thư đã được biết đến từ hàng ngàn năm trước và được các thầy thuốc Ai Cập và Hy Lạp cổ đại ghi chép lại. Một trong những lý do lớn nhất giải thích cho việc ung thư trở nên phổ biến hơn rất nhiều trong thời đại ngày nay chủ yếu là do sự kết hợp giữa tuổi thọ cao hơn và có sẵn nhiều thông tin hơn.

Tuổi tác là yếu tố nguy cơ lớn nhất gây bệnh ung thư, và nhờ có những tiến bộ về công nghệ, tuổi thọ dự kiến của con người cũng tăng lên. Khi chúng ta già đi, nguy cơ các tế bào trên cơ thể phát triển thành ung thư cũng gia tăng do ADN bị tổn thương theo thời gian. Ngoài ra, với việc có sẵn nhiều thông tin hơn về ung thư cũng như nhiều kỹ thuật hơn cho phép phát hiện bệnh sớm, ngày càng có nhiều người nhận biết được về tình trạng của mình. Trong những thế kỷ trước, việc con người qua đời do “tuổi già” hoặc “bệnh tật” là rất đỗi bình thường, và nguyên nhân gây tử vong thực sự không bao giờ được biết đến. Những trường hợp như vậy có thể là kết quả của bệnh ung thư không được chẩn đoán.

Mặc dù đúng là một số khía cạnh của cuộc sống hiện đại (ví dụ như hút thuốc lá, sử dụng thực phẩm chế biến sẵn và thói quen sinh hoạt ít vận động) có thể góp phần làm phát triển một số loại ung thư, nhưng việc khẳng định ung thư là bệnh “nhân tạo” vẫn là không chính xác.

Nguồn: 10 Persistent Cancer Myths Debunked, Cancer Research UK (Hé lộ 10 lầm tưởng bấy lâu về bệnh ung thư, Tổ chức Nghiên cứu Ung thư Vương Quốc Anh)

07/30/2021

CÂN BẰNG ÂM DƯƠNG LÀ GÌ?

Thiên nhiên luôn cân bằng bởi hai sức mạnh vừa đối nghịch nhau vừa bổ sung cho nhau, nằm trong động vật và thực vật, nước và lửa, nóng và lạnh, sáng và tối, trắng và đen, cứng và mềm, nhanh và chậm, khí thanh và khí trược, sống và chết, nam và nữ, trời và đất… ở khắp chốn mọi nơi. Hai sức mạnh đối nghịch đó, gọi là âm và dương, nhờ đó sự sống được duy trì và tiến hóa. Cân bằng âm dương là quy luật lớn nhất của vũ trụ, và cũng là quy luật sinh tử của mỗi con người. Mất cân bằng âm dương là mất sức khỏe.

Cân bằng âm dương là quy luật lớn nhất của vũ trụ, và cũng là quy luật sinh tử của mỗi con người.

Chúng ta ăn thức ăn, thực chất là ăn Hydro vì khả năng giải phóng ion Hydro sẽ tạo ra năng lượng nuôi tế bào. Khả năng giải phóng ion Hydro được tính bằng đơn vị pH. Nước có pH bằng 7 gọi là độ pH trung tính, nếu pH lớn hơn 7 chất đó gọi là kiềm, còn pH nhỏ hơn 7 chất đó gọi là axit. Axit và kiềm có đặc tính trái ngược nhau như dương và âm. Cơ thể con người chiếm 70% trọng lượng là dịch lỏng chứa Hydro.

Một người nặng 50kg, thì chứa 35kg dịch axit và kiềm nên vai trò của kiềm và axit rất quan trọng. Nguyên tố tạo kiềm di chuyển trong máu, nguyên tố tạo axit di chuyển lên não.

Biểu thị sự cân bằng axít và kiềm là máu có độ pH=7,4 (có tính kiềm nhẹ). Máu có kiềm tính nhẹ thì kích thích hoạt động thần kinh, nghĩ và quyết định nhanh chóng. Kiềm nhẹ tạo nên sự thư giãn. Mọi thay đổi pH=7,4 đều dẫn tới bệnh tật.

Bệnh thừa kiềm pH = 7,7 làm kích thích mạnh thần kinh, người bứt rứt cao độ, dễ xúc cảm, co giật cơ bắp không tự kiềm chế, co thắt tim. Bệnh thừa kiềm hiếm khi xảy ra, thường do sử dụng thuốc Sodium, Co**in quá liều.

Thừa axit trong máu (tức là thiếu kiềm) sẽ ức chế thần kinh, không thể nghĩ và hoạt động nhanh nhẹn quyết định được, nếu pH= 6,9 thần kinh suy yếu mất phương hướng, não không truyền tín hiệu, trầm cảm, hôn mê, ngất xỉu.

Biểu hiện dư axit máu là một trong những dấu hiệu: đau nhức, mệt mỏi, táo bón, sưng mắt, rêu lưỡi trắng, viêm tấy, ung thư, đau thận, đau gan, đau dạ dày, yếu phổi, thở yếu… Axit tăng cao ở vùng nào thì một số tế bào chết, hoặc trở thành ác tính. Các tế bào chết tự biến thành axit tạo ra ổ viêm loét. Dư axit là một trong những nguyên nhân gây mệt mỏi, ung thư, trầm cảm, xơ vữa động mạch và bệnh nan y khác.

Cơ thể luôn luôn có sự điều tiết để quân bình âm dương. Dịch dạ dày (axit), dịch mật (kiềm), dịch nước bọt (kiềm)… được tiết ra để trung hòa thức ăn kiềm và axit, giữ cho máu luôn ở mức ổn định pH = 7,4. Ngoài ra, còn có vai trò của khoáng chất và vitamin được bổ sung từ thực phẩm. Khi già yếu sự tiết dịch sẽ kém điều tiết quân bình âm dương, sức khỏe giảm sút. Cơ thể mỗi người có kiểu cách quân bình riêng, có loại thức ăn tốt với người này, nhưng không tốt với người khác.

Cơ quan báo động sự mất quân bình ăn uống là lưỡi gà trong họng, chiếc van báo động khi ăn uống nhiều, không phù hợp cơ thể, không tiêu thụ hết, nó sẽ báo ran rát, ngứa, ho, hoặc nôn ọe, tạo cảm giác khó chịu, cảnh báo ăn tiếp sẽ nguy hiểm, phải dừng lập tức, có kế hoạch giảm bớt hoặc chấm dứt. Nếu táo bón, hoặc nước tiểu sẫm màu, phải suy nghĩ bỏ dùng món ăn không thích hợp. Chuối chín, bột Địa long chữa táo bón rất tốt. Nếu táo bón lâu ngày phải xem xét chữa trị gan, thận, ung thư đại tràng.

Khi thức ăn đến tay người tiêu dùng thì hầu hết bị tẩm thêm nhiều loại hóa chất như: chất phụ gia bảo quản, hương liệu chất tạo mùi, phẩm màu, đường hóa học, axit nitric, chất làm đông, chất ổn định, chất làm xốp, chất làm nở, chất làm dẻo, chất làm dai, chất làm cứng, chất chống mốc, chất chống thối, chất làm đặc… với rất nhiều chủng loại không thể kể hết 3.000 loại hóa chất đã đưa vào thực phẩm cho chúng ta ăn uống. Cần giảm thiểu sử dụng đường, bánh kẹo, thuốc tây, mì ăn liền, đồ hộp, nước ngọt đóng chai, thức ăn chế biến công nghiệp, thuốc lá, rượu…

Đời sống tinh thần tư tưởng căng thẳng, làm việc quá tải, hoặc yếu thận, yếu gan, yếu hô hấp cũng làm tăng axit máu.

Rong tảo biển, hoa quả tươi và hầu hết các loại rau tươi được xem là thực phẩm sinh ra kiềm, tuy là thực phẩm chứa axit, nhưng khi ăn vào làm trung hòa axit dư thừa, nên được xem là thực phẩm kiềm tốt ( theo Heman Aihara). Kiềm nhất là rong wakame. Một số loại thuốc tây có tính kiềm như Sodium Carbonate, Co**ine, thuốc gây mê, gây tê, thuốc giảm đau. Thảo dược có kiềm tính cao như: giảo cổ lam, táo mèo, atiso, củ sâm, linh chi, củ gừng, bột sắn dây, mơ, táo… Khoáng chất tạo kiềm: Can xi, Kali, Natri, Magiê, Sắt. Các loại Vitamin giúp ích xúc tác quá trình cân bằng axit và kiềm. Chỉ có vitamin tự nhiên trong rau, củ, quả tươi mới thật sự cứu cánh cho cân bằng pH máu. Nếu uống thừa vitamin nhân tạo cũng bất lợi. Nhưng ngay cả rau, quả, củ cũng bị nhiễm hóa chất độc khi gieo trồng, gây ngộ độc từ từ, hoặc tử vong. Nhiều vị tu hành bị ung thư vì ăn hoa quả nhiễm hóa chất.

Sự cân bằng với môi trường, do guồng máy vô thức luôn theo dõi chênh lệch môi trường về nhiệt độ nóng lạnh, áp suất, độ ẩm, ánh sáng, thành phần không khí, độ nghiêng… để điều tiết nội tiết tố, dung hòa với môi trường trong vài chục giây, vài phút. Nếu không cân bằng được, sẽ dẫn tới cảm cúm, đau nhức, rối loạn tiền đình…

Chúng ta thấy rõ lập trình tạo hóa về sự cân bằng âm dương rất tinh vi nghiêm ngặt. Điều đó thể hiện tầm vóc vĩ đại của quy luật cân bằng âm dương bao trùm từ chất khí nhỏ nhất cho đến quy mô lớn nhất toàn thể vũ trụ. Sự sống được tồn tại theo quy luật cân bằng âm dương, mất cân bằng là dẫn tới hư hoại, sụp đổ.

Quy luật quân bình âm dương được đúc kết từ kinh nghiệm minh triết, được cổ nhân sử dụng là kim chỉ nam xuyên suốt mọi lĩnh vực đời sống. Nền văn hóa cân bằng âm dương đã giúp người xưa sống hài hòa thiên nhiên, ít bệnh tật.

Nhưng thời hiện đại, các phát minh khoa học có xu hướng tách rời tự nhiên, và gia tăng axit vô giới hạn trong các sản phẩm gia dụng, xây dựng, ăn uống, làm con người mất dần yếu tố Kiềm, không cân bằng nối với sự gia tăng ồ ạt của axit, dẫn tới bệnh tật nan y đau nhức vô hạn. Nghiên cứu khoa học đã đi chệch hướng bởi vi phạm luật cân bằng âm dương, đem lại thảm họa: bên ngoài đẹp, nhưng mục rỗng bên trong.

Tất cả các sản phẩm tiêu dùng đều căn cứ vào máy móc đánh giá “kiểm tra, kiểm định kỹ, an toàn đạt chất lượng quốc tế…” nhưng thực ra máy móc làm sao tính được cân bằng âm dương. Cả xã hội bị axit hóa theo sự gia tăng của hóa chất sử dụng và các hoá chất mới được phát minh mỗi ngày, khiến cơ thể quằn quại gánh chịu sự mất cân bằng âm dương. Cơ thể bị thiếu kiềm thừa axit phi tự nhiên. Cứ tăng tốc như vậy tất yếu bị diệt vong.

GS BS Nguyễn Chấn Hùng, khẳng định chỉ 5% – 10% ung thư là do di truyền, còn lại ảnh hưởng từ việc “ăn gì, sống như thế nào, hít thở không khí ra sao”.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ CÂN BẰNG ÂM DƯƠNG TRONG CƠ THỂ?
Khoa học hồi sinh là khoa học nghiên cứu sự cân bằng âm dương, là vấn đề rất khó khăn của loài người cần chuyển hướng. Song mỗi người có thể tự chủ điều tiết quân bình âm dương, qua 2 vấn đề chủ lực: quân bình năng lượng dương và âm, quân bình axit và kiềm, nhờ ăn uống và luyện tập dưỡng sinh đúng.

Luyện tập dưỡng sinh để quân bình âm dương. Do sống sai lầm xa rời tự nhiên, bế tắc kinh mạch, khiến năng lượng dương bị giảm và năng lượng âm tăng nhanh, nên 80% dân số thế giới chết vì bệnh. Do đó dưỡng sinh là việc hệ trọng để tái thiết lập sự quân bình âm dương.

Điều chỉnh ăn uống cân bằng kiềm và axit. Ăn thức ăn có chất đạm dễ tiêu hóa hấp thụ hết, để tránh dư thừa axit. Như chất đạm ở bột địa long, cá, đậu nành, rong tảo biển… Ăn rau hoa quả hữu cơ tươi sạch, chế biến đơn giản càng sạch. Dùng thêm thực phẩm có tính hoạt hóa trung hòa axit như: Nghệ, curcumin, bột sắn dây… Không ăn quá no, dư thừa. Khi ăn nhai kỹ nước bọt sẽ chuyển axit thành kiềm.

Theo kinh nghiệm của bác sĩ Stephen Mak trị bệnh ung thư thời kỳ chót: Trái cây là thức ăn quan trọng. Không được ăn trái cây sau bữa ăn làm cho thức ăn khó tiêu. Nên ăn trái cây khi bụng trống. Nếu ăn theo cách này, trái cây sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tẩy uế cơ thể, tất cả trái cây trở thành chất kiềm ( alkaloid ) trong cơ thể… Khi cần uống nước trái cây, hãy uống nước ép trái cây tươi, không uống từ đồ hộp. Ăn trái cây tươi vẫn tốt hơn là uống nước ép trái cây đóng chai. Nếu uống nước trái cây uống từng ngụm, từ từ, để nước trái cây hòa tan với nước bọt trước khi nuốt.

Bản thân những người lao động cần cù chưa hiểu rằng việc chuyển chế độ canh tác rau quả hữu cơ, sang canh tác bằng hóa chất, thì bản thân người lao động đã mất an toàn. Trong khi họ hòa trộn phun tẩm hóa chất, dù phòng hộ cách nào họ cũng là nạn nhân của hóa chất độc.

Sự mất quân bình âm dương đang gây nên thảm họa khôn lường. Không phải chuyện tầm phào, nó sẵn sàng mang đi cả sự nghiệp và sinh mạng của bạn bất cứ lúc nào. Người không biết đang phải trả giá quá đắt.

Nguồn: các bạn có thời gian tham khảo thêm tài liệu bên dưới.

https://tuoitre.vn/can-bang-am-duong-bi-quyet-vang-cho-suc-khoe-nguoi-cao-tuoi-20171124144445061.htm

https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/the-top-10-causes-of-death

http://med-aid.vn/vi/gs-bs-nguyen-chan-hung-chu-tich-hoi-ung-thu-vn-40-so-ca-ung-thu-co-phong-ngua

https://www.healthcoco.com/blog/eating-fruit-on-empty-stomach

https://tuoitre.vn/can-bang-am-duong-bi-quyet-vang-cho-suc-khoe-nguoi-cao-tuoi-20171124144445061.htm

Want your business to be the top-listed Beauty Salon in New York?
Click here to claim your Sponsored Listing.

Category

Telephone

Website

Address


New York, NY