GOTA LONG XUYÊN

GOTA LONG XUYÊN

Share

Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from GOTA LONG XUYÊN, Long Xuyên.

25/05/2026

🇺🇸🇺🇸🇺🇸
Tên người trong khúc đồng dao!
Năm 1967, chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn dữ dội nhất. Không quân Hoa Kỳ liên tục mở những đợt oanh kích miền Bắc nhằm cắt đứt đường tiếp vận và gây áp lực lên Hà Nội. Trên bầu trời đầy khói lửa ấy, nhiều phi công Mỹ bị bắn rơi rồi trở thành tù binh trong những trại giam khét tiếng của Bắc Việt. Một trong số đó là Đại úy Không quân Robert “Bobby” Kline, một sĩ quan trẻ được đào tạo bài bản, từng tin tưởng rằng kỹ thuật và sức mạnh quân sự Hoa Kỳ có thể xoay chuyển cục diện chiến tranh. Nhưng một chuyến bay định mệnh đã thay đổi toàn bộ cuộc đời ông.
Chiếc phi cơ của Kline bị trúng đạn phòng không gần Hà Nội. Ông nhảy dù xuống đất, bị dân quân và bộ đội CSBV bắt giữ rồi giải vào một trại tù gần thủ đô miền Bắc. Nơi đó về sau nhiều tù binh Mỹ gọi bằng cái tên chua chát “Hanoi Hilton”. Cái tên nghe như khách sạn sang trọng, nhưng thật ra là một hệ thống giam giữ đầy biệt giam tối tăm, tra khảo và cô lập tinh thần. Tù binh bị cắt đứt liên lạc với thế giới bên ngoài. Nhiều người sống nhiều năm mà không biết gia đình mình còn nghĩ họ sống hay đã chết.
Trong hoàn cảnh ấy, phần đông tù binh cố giữ phẩm giá bằng thái độ cứng cỏi. Họ tìm cách chống đối, giữ quân kỷ và bảo vệ thông tin quân sự. Nhưng Robert Kline lại chọn một con đường hoàn toàn khác. Ông quyết định biến mình thành một kẻ khùng điên.
Ban đầu, ngay cả vài tù binh Mỹ cũng tưởng ông thật sự suy sụp tinh thần. Ông cười vô cớ, nói năng lảm nhảm, đi đứng vụng về như người mất trí. Có lúc ông nhìn trừng trừng lên trần nhà rồi khe khẽ hát mấy bài đồng dao trẻ con. Có khi đang ăn lại cố ý làm rơi chén bát, va vào cửa hay gây ra vài chuyện lộn xộn nhỏ nhặt. Đối với lính canh Bắc Việt, ông không còn là một sĩ quan đáng ngại nữa. Chỉ là một con người đã bị chiến tranh nghiền nát thần trí.
Chính sự khinh thường ấy lại là điều Kline mong muốn. Đằng sau vẻ mặt ngờ nghệch, đầu óc ông vẫn tỉnh táo lạ thường. Ông âm thầm ghi nhớ từng lối đi trong trại, từng giờ đổi gác, từng thói quen của cai tù và từng sơ hở nhỏ trong hệ thống canh phòng. Ông nhận ra một người tù bị chuyển đi lúc nào, ai bị thương, ai bị đưa vào biệt giam rồi mất hút nhiều tuần. Trí nhớ của ông giống như cuốn sổ tay sống mà không ai có thể khám xét được.
Rồi những chuyện lạ bắt đầu xảy ra trong trại. Một ổ khóa hư bất thường. Một vật dụng biến mất. Một lịch trình bị xáo trộn. Những chuyện nhỏ thôi, không đủ để mở cuộc điều tra lớn, nhưng đủ làm hệ thống quản lý khó chịu. Không ai nghi ngờ một “gã khùng” có thể làm điều đó.
Nhưng phá hoại không phải mục tiêu quan trọng nhất của ông. Điều khiến Robert Kline lo sợ hơn cả là sự biến mất của con người trong im lặng.
Chiến tranh Việt Nam đã tạo ra hàng ngàn trường hợp “MIA” — mất tích trong khi làm nhiệm vụ. Ở Hoa Kỳ, nhiều bà mẹ ngày ngày nhìn ra trước hiên nhà mong người đưa thư mang tin tức con mình. Nhiều người vợ trẻ nuôi con trong tâm trạng nửa hy vọng nửa tuyệt vọng. Có gia đình không biết người thân còn sống, đã chết hay đang nằm đâu đó trong rừng sâu Đông Dương.
Ngay trong trại tù, nhiều tù binh cũng biến mất không dấu vết. Có người chết vì bệnh tật hay thương tích. Có người bị chuyển sang nơi khác rồi bặt vô âm tín. Có người bị biệt giam lâu đến mức chẳng còn ai nghe tiếng nói nữa. Robert Kline hiểu rằng nếu không có ai nhớ họ, họ sẽ bị lịch sử nuốt mất.
Ông bắt đầu thu thập tên tuổi tù binh. Tên, cấp bậc, quê quán, tình trạng thương tích, lời nhắn cuối cùng dành cho gia đình. Có người muốn nhắn với mẹ ở Texas rằng mình vẫn còn sống. Có người gửi lời xin lỗi người vợ trẻ đã chờ đợi quá lâu. Có người chỉ kịp nói một câu ngắn ngủi: “Đừng bỏ cuộc.”
Hơn một trăm thân phận được Kline giữ lại chỉ bằng trí nhớ.
Nhưng trong trại tù, nếu bị phát hiện ghi chép, hậu quả sẽ rất nặng nề. Tù binh có thể bị đánh đập hoặc biệt giam nhiều tháng. Vì vậy Kline nghĩ ra một phương pháp kỳ lạ đến mức không ai ngờ tới. Ông dùng bài hát trẻ con “Row, Row, Row Your Boat” làm chiếc kho chứa ký ức.
Nhịp điệu bài hát trở thành hệ thống mã hóa trong đầu ông. Mỗi câu hát gắn với một nhóm thông tin. Mỗi đoạn ngân nga mang theo tên tuổi và câu chuyện của những con người đang bị quên lãng. Đối với lính canh, đó chỉ là tiếng hát vô nghĩa của một kẻ thần kinh bất ổn. Nhưng với Kline, đó là chiếc két sắt bí mật không ai có chìa khóa mở.
Nhiều năm trôi qua như vậy. Bên ngoài song sắt, chiến tranh tiếp tục leo thang rồi dần thay đổi. Ở Hoa Kỳ, phong trào phản chiến lan rộng. Trên bàn hội nghị Paris, những cuộc thương lượng bắt đầu xuất hiện. Và đến năm 1972, Robert Kline được trao trả tự do cùng nhiều tù binh khác.
Ông bước ra khỏi trại tù với dáng vẻ gầy gò, lặng lẽ, gần như vô danh. Nhưng rồi ông bắt đầu kể lại những gì mình ghi nhớ suốt nhiều năm. Tên tuổi của những người mất tích. Tình trạng của họ. Những lời nhắn gửi cho gia đình. Những bằng chứng cho thấy ai từng còn sống trong trại giam Bắc Việt.
Đối với nhiều gia đình Mỹ, đó là món quà quý hơn vàng. Sau nhiều năm sống trong mịt mờ tuyệt vọng, cuối cùng họ cũng có được một phần sự thật. Có người bật khóc khi nghe tên con mình được nhắc lại. Có người lần đầu tiên biết chồng mình đã cố gửi lời yêu thương trước khi qua đời.
Robert Kline không trở thành anh hùng kiểu Hollywood. Ông không vượt ngục bằng súng đạn, không mở trận đánh oanh liệt. Vũ khí của ông chỉ là trí nhớ, sự kiên nhẫn và khả năng khiến đối phương coi thường mình. Nhưng đôi khi lịch sử được cứu giữ bởi những con người như thế.
Nhiều năm sau chiến tranh, trong một buổi họp mặt cựu tù binh, người ta kể rằng Kline lại khe khẽ hát bài “Row, Row, Row Your Boat.” Những ai hiểu câu chuyện phía sau đều lặng người. Bài đồng dao trẻ con ngày nào không còn chỉ là âm nhạc. Nó trở thành nghĩa trang ký ức dành cho những người từng bị chiến tranh xóa tên.
(Theo câu chuyện được kể lại thì bài “Row, Row, Row Your Boat” không phải để hát chơi. Đại úy Robert “Bobby” Kline dùng nhịp điệu và cấu trúc của bài hát như một “hệ thống ghi nhớ” để chứa tên tuổi và thông tin của các tù binh khác.
Tức là ông không hẳn đổi nguyên cả lời bài hát thành tên đồng đội theo kiểu viết lại ca khúc, mà dùng từng câu, từng nhịp, từng đoạn làm “móc trí nhớ.”
Thí dụ:
* Một câu hát tương ứng với một nhóm tên.
* Một nhịp tương ứng với cấp bậc hay quê quán.
* Một đoạn tương ứng với lời nhắn của tù binh.
Đó là kỹ thuật ghi nhớ rất cổ xưa, giống cách người Hy Lạp hay các nhà sư ngày xưa dùng thơ ca và nhạc điệu để nhớ những văn bản dài trước khi có giấy bút phổ biến. Khi có nhịp điệu, bộ não nhớ lâu hơn nhiều.
Vì vậy, khi lính canh nghe ông lẩm nhẩm “Row, row, row your boat, gently down the stream…”, họ tưởng ông thần kinh không bình thường. Nhưng thật ra trong đầu ông, mỗi chữ hay mỗi nhịp có thể đang gắn với:
* tên một phi công,
* số quân,
* nơi bị bắt,
* thương tích,
* hay lời nhắn gửi về gia đình.
Đó mới là điều đặc biệt của câu chuyện: ông biến một bài hát trẻ con thành “két sắt ký ức.” Người ngoài nghe chỉ thấy tiếng hát vô nghĩa, còn với ông đó là hồ sơ sống của hơn trăm con người bị chiến tranh làm mất dấu.
Tuy nhiên cũng cần nói thêm: đây là một giai thoại chiến tranh được truyền tụng nhiều hơn là hồ sơ quân sử chính thức có đầy đủ tài liệu kiểm chứng từng chi tiết. Trong các trại tù Bắc Việt, nhiều tù binh Mỹ quả thật đã dùng đủ loại phương pháp ghi nhớ bí mật — từ mã gõ tường, thơ vè, bài hát cho tới kỹ thuật mnemonic — để lưu giữ thông tin và liên lạc với nhau. Câu chuyện về Kline nổi tiếng vì nó cho thấy sức mạnh của trí nhớ và sự “giả khùng” như một chiến thuật sinh tồn.)
Câu chuyện của Robert Kline cũng là lời nhắc nhở cay đắng về bản chất chiến tranh Việt Nam. Cuộc chiến ấy không chỉ tàn phá đất nước Việt Nam mà còn để lại những vết thương tâm lý sâu đậm cho cả một thế hệ người Mỹ. Nó tạo ra những bà mẹ chờ con suốt đời, những người lính sống sót nhưng không bao giờ thoát khỏi ký ức nhà tù, và những con người phải giả điên để giữ cho đồng đội mình khỏi biến mất khỏi lịch sử.
Bài học lớn nhất từ câu chuyện này có lẽ nằm ở một nghịch lý đơn giản: đôi khi cách chống cự hiệu quả nhất không phải là tỏ ra mạnh mẽ, mà là khiến đối phương tin rằng mình hoàn toàn vô hại. Robert Kline đã chấp nhận mang chiếc mặt nạ của một kẻ khùng để cứu lấy tên tuổi của hơn một trăm con người. Và trong thế giới đầy kiêu ngạo của chiến tranh, chính sự bị xem thường ấy lại trở thành thứ vũ khí lợi hại nhất.
Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.
🇺🇸🇺🇸🇺🇸.

19/05/2026

NGƯỜI HOA Ở CHỢ LỚN.

1. Người Hoa ở Chợ Lớn phần lớn thuộc về năm nhóm người chính: Quảng Đông (Việt) tính tình rộng rãi, giỏi kinh doanh buôn bán, Phúc Kiến (Mân) bảo thủ gia trưởng và coi trọng việc thi cử đỗ đạt, Triều Châu (Tiều) sống tiết kiệm, kham khổ và siêng năng và Khách Gia (Hẹ) đầu óc phóng khoáng và đặc biệt nấu ăn rất ngon, nhất là những món Tây. người Hải Nam, món ngon của người Hải Nam là cơm gà Hải Nam, thịt dê tiềm , miến xào khô mực , thịt kho (khâu nhục ), Kinh doanh, người Hải Nam thường mở tiệm nước, cà phê (Kapía), bán chạp phô (tạp hóa) Trong đó Quảng Đông là nhóm đông nhất.
2. Ngôn ngữ chính để giao tiếp của người Hoa ở Chợ Lớn với nhau là tiếng Quảng Đông vì tiếng Quảng Đông tương đối dễ nói. Người Hẹ, Tiều và Phúc Kiến phần lớn đều có thể nói lưu loát tiếng Quảng Đông, còn người Quảng Đông hiếm ai có thể nói được ba thứ tiếng còn lại. Điều này khiến Chợ Lớn rất giống Hong Kong về mặt ngôn ngữ với tiếng Quảng Đông là ngôn ngữ chính. Nhiều người Hoa ở Chợ Lớn biết tiếng Phổ thông nhưng nói không tốt vì hầu như chẳng bao giờ sử dụng.
3. Người Quảng Đông ở Chợ Lớn gọi nhau là Thoòng dành (Đường nhân) để nhắc nhở quê hương của họ là ở Đường Sơn, Quảng Đông, gọi Sài Gòn là Xấy Cung (Tây Cống) và Chợ Lớn là Thày Ngòn (Đề Ngạn). Còn người TQ thì gọi là Tài Lục dành (người đại Lục). Người Hoa Chợ Lớn không thích bị đánh đồng với người đại lục mà thích khi được khen giống người Héng Coỏng (Hương Cảng) hơn.
4. Người Hoa ở Chợ Lớn có một số đức tính như rất siêng năng và giữ chữ tín trong kinh doanh, hầu như hiếm khi xảy ra chuyện thất tín hay mua gian bán lận. Khi buôn bán với người Việt hoặc người nước ngoài, người Hoa cũng không lợi dụng sự bất đồng ngôn ngữ để bán giá khác cho khách. Họ cũng ít khi se sua chưng diện vẻ bề ngoài xe xịn, điện thoại xịn. Nhiều ông già người Hoa ngồi uống cà phê quán cóc có thể là xì thẩu (đại gia) cỡ bự.
5. Người Hoa Chợ Lớn coi trọng gia đình và phần lớn dạy con rất nghiêm. Gia đình nhiều thế hệ thường tụ tập đông đủ ăn cơm tối chung, hiếm có chuyện mỗi người bưng một tô cơm ngồi vừa làm việc riêng vừa ăn hay đi đâu quá giờ cơm tối. Tỉ lệ người Hoa nghiện ngập, cờ bạc, đánh nhau trong trường hoặc phá thai rất hiếm cũng một phần nhờ gia giáo nghiêm khắc.
6. Đàn ông người Hoa hiếm khi nhậu nhẹt rượu bia. Dịp duy nhất tôi thấy họ uống vài ly bia là đám cưới, thôi nôi hoặc tân gia và hầu như không bao giờ ép uống tới say. Các quán ăn của người Hoa buổi tối hầu như không hề thấy cảnh cánh đàn ông ngồi nhậu cà kê mà thường là cả gia đình vợ chồng con cái chở nhau đi ăn. Đàn ông người Hoa phần lớn đều nấu ăn rất ngon và không ngại chuyện bếp núc hoặc làm việc nhà.
7. Người Hoa Chợ Lớn cũng có một số nhược điểm như nhà ở không chú trọng vệ sinh nên rất bừa bộn và cũ kĩ, coi trọng việc đẻ con trai nối dõi tông đường,bảo thủ gia trưởng và mê tín. Các nghi thức ma chay cưới hỏi đều rất rườm rà và tốn kém.
8. Nếu như người Việt Nam hay sử dụng nước mắm để nêm nếm, người Hoa thường sử dụng nước tương, dấm đỏ, bột ngũ vị hương và dầu mè làm gia vị chính. Người Hoa ít dùng ớt tươi mà thường dùng gừng, tiêu, ớt khô hoặc sa tế để tạo vị cay cho món ăn.
9. Người Quảng Đông nổi tiếng các món canh tiềm, điểm tâm (há cảo, xíu mại), hoành thánh, sủi cảo, hủ tíu mì...người Tiều có cháo trắng cà na, trứng vịt muối, cải xá bấu, ruột heo xào cải chua, bún gạo xào và phá lấu...người Phúc Kiến có món Phật leo tường nổi danh còn người Hẹ nấu các món như cơm chiên, cơm xào, bò bít tết, gà xối mỡ, nui xào bò...những món kết hợp những nguyên liệu phương Tây như củ hành tây, cà chua, ớt chuông, khoai tây...là số một. Thời Pháp thuộc, các đầu bếp nấu ăn cho quan Tây phần lớn là người Hẹ.
10. Người Hoa ăn cơm nhất thiết phải có canh. Canh thường được nấu thật lâu, hầm nhừ các nguyên liệu như thịt, rau cải và các vị thuốc với nhau mấy tiếng đồng hồ rồi chủ yếu uống nước bỏ xác. Người Hoa ăn cơm không chan canh như người Việt mà uống canh sau khi ăn cơm với các món mặn xong.
11. Người Hoa thích ăn chè (thoòng sủi = nước đường). Chè người Hoa được nấu từ hầu như tất cả các loại nguyên liệu từ như các loại đậu (đậu xanh, đậu đỏ, đậu đen), củ (khoai lang, khoai sọ, củ năng), hạt (bo bo, hat sen, ý nhĩ...) quả (táo tàu, nhãn nhục, trái vải, đu đủ...) các vị thuốc (hoài sơn, kỷ tử, thục địa, ngân nhĩ...) cho tới những thứ mang nguồn gốc động vật (trứng gà, trứng cút, tuyết giáp, mai rùa...). Chè người Hoa không có nước dừa như chè người Việt.
12. Món ăn Tết người Hoa thường là lạp xưởng, vịt lạp, canh tóc tiên giò heo đông cô, canh khổ qua dồn thịt, gà luộc và bánh tổ (niên cao). Tết Đoan ngọ ăn bánh bá chạng (gần giống bánh chưng của người Việt nhưng phần nhân có trứng vịt muối, thịt heo và nấm đông cô và được gói bằng lá tre) và thang viên (chè trôi nước). Người Hoa cũng cúng giao thừa, xông nhà, chúc tết cha mẹ và nhận lì xì vào mùng 1 tết nhưng không chưng mai đào hay hoa trong nhà như người Việt. Ngày giáp tết, người Hoa hay mua những tờ giấy đỏ viết chữ Phúc hoặc những câu chúc tết như "vạn sự như ý", "xuất nhập bình an", "sinh ý hưng long" (mua may bán đắt) viết bằng sơn nhũ kim về dán trên dưa hấu hoặc trên tường nhà và trước cửa. Nhà làm ăn thì hay rước đội lân về múa khai trương đầu năm.
13. Người Hoa phát lì xì hầu như bất cứ khi nào nhà có chuyện hỉ như đám cưới, thôi nôi, đầy tháng, khai trương, tân gia...với ý nghĩa chia lộc lấy hên. Màu may mắn là màu đỏ, màu xui xẻo là màu trắng, chỉ dùng cho tang ma.
14. Người Hoa có tinh thần đoàn kết tương trợ rất cao qua các hội đồng hương được gọi là hội quán. Các hội quán lúc trước là các hội kín của người Minh hương chống lại nhà Thanh. Khi qua tới Việt Nam, các bang hội này dần mất đi màu sắc chính trị mà chủ yếu tương trợ giúp đỡ đồng hương về mặt kinh tế. Trụ sở của các hội quán thường được đặt ở các miếu thờ Quan Công, Thiên Hậu nương nương hay Bổn Công (Triều Châu). Những hội quán này ở Hong Kong thường phát triển theo hướng làm ăn phi pháp gọi là "công đoàn" tức băng đảng xã hội đen.
15. Ngoài những từ chỉ món ăn quá quen thuộc như hoành thánh, há cảo, xíu mại, xá xíu, lạp xưởng...người miền nam trước 1975 còn dùng khá nhiều từ gốc tiếng Hoa như pạc sỉu (cà phê sữa đá ít cà phê), xây chừng (cà phê đen li nhỏ), tài mà ( đại ma = cần sa), xộ khám (toạ giam = ngồi tù), nhị tì (nghĩa địa) tài chảy, a có (ca = anh), a chế (tỷ = chị), sườn xám (trường xiêm = áo dài), xí quách (trư cốt = xương heo)...trong tiếng Quảng Đông, cà na, pò pía, hủ tíu (phảnh), phá lấu, thím (thẩm = vợ của chú hoặc người phụ nữ trung tuổi), tía (cha), má (mẹ), thèo lèo (trà liệu = bánh kẹo ăn khi uống trà),bánh pía, tùa hia (đại huynh)...trong tiếng Triều Châu để sử dụng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày.

18/05/2026

Đầu năm 1943, ông đau nặng. Sáng sớm ngày 1/3, ông bảo người hầu già nâng ông ngồi dậy, nhìn ra biển Đông, rồi nhắm mắt, bình thản ra đi ở tuổi 80 mà không có người thân nào bên cạnh. Ông để lại chúc thư, dặn hãy chôn cất ông ở Nha Trang để mãi được gần gũi những người ông yêu mến.
Cả xóm Cồn hôm ấy và mấy ngày liền sau đó không ai đi biển. Họ khóc như mưa trước cái chết của người ân nhân dành cả cuộc đời cho họ: "Thầy Năm qua đời, từ nay ai giúp đỡ chúng tôi đâu?". Nhà nhà đều bày bàn thờ với tấm hình ông ở nơi trang trọng nhất.
Ngày nay, cứ ngày 1/3 hàng năm, dân chúng trong vùng lại kéo đến viếng mộ ông.

Ông chính là Alexandre Yersin.

Ông là học trò của Luis Pasteur, người tìm ra vaccine. Khi tưởng chừng sắp được giải Nobel Y học tiếp theo về bệnh bạch hầu, ông quyết định ra đi. Ông lên tàu, làm bác sĩ trên tàu, rồi yêu mến mỗi lần tàu cặp bến Nha Trang. Ông chọn nơi đây làm nơi cư ngụ, chữa bệnh tại địa phương và dành những ngày nghỉ đi thám hiểm.

Ngày 21-3-1893, ông tìm ra cao nguyên Lang Biang. Nói cách khác, ông là "cha đẻ" của thành phố Đà Lạt.
Năm 1894, ông tìm ra chuột chính là nguyên nhân gây bệnh dịch hạch. Ông mở Viện Pasteur ở Nha Trang để bào chế vaccine giúp người Việt chống lại bệnh này.
Ông sống giản dị trong ngôi nhà gỗ nhỏ, nói tiếng Việt giỏi, ngày đêm có ai nghèo ốm đau ông đều tới chữa miễn phí.
Ông làm những dụng cụ đơn giản để dự báo thời tiết. Khi sắp có bão to, ông treo ngọn đèn rất sáng ở một cột cao ngay trên nóc nhà báo cho dân xóm Cồn biết mà không ra biển.
Ông bỏ tiền riêng thuê kéo ống nước về đặt máy nước nhiều nơi cho dân sử dụng.
Ông dành một tủ sách lớn cho bọn trẻ vào đọc. Ông chia bánh kẹo, dạy chúng thiên văn và dự báo khí tượng.
Năm 1902, ông được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng đầu tiên trường Đại học Y Dược Hà Nội.
25 năm cuối đời, ông tập trung nghiên cứu di thực các loài cây ôn đời vào nước ta. Nhờ ông, ta có thêm su hào, bắp cải, cà rốt, xà lách, súp lơ... Và đặc biệt có thêm cà phê và cao su.

Bình Yên sưu tầm

16/05/2026

Anh Thành Lộc, một nghệ sĩ chân chính có lương tâm và trách nhiệm với nghề với dân tộc đã viết:

"TÔI CHỈ LÀ HẠT CÁT TRONG CÁI SA MẠC SHOWBIZ VIỆT NHU NHƯỢC"

"Hồi còn làm Ban Giám Khảo của VN’s Got Talent đến mùa thứ 2 thì có một bạn hâm mộ tại Hà Nội đã lấy chân dung tôi, Huy Tuấn, Thuý hạnh và MC Thanh Bạch ghép vào hình ảnh nhóm thầy trò đường tăng Tam Tạng đi thỉnh kinh trong Tây Du Ký để bày tỏ lòng ngưỡng mộ.

Tôi có nói với bạn ấy (qua facebook thôi) rằng tôi cảm kích lòng ngưỡng mộ của bạn ấy dành cho chương trình và riêng BGK&MC, nhưng xin đừng ghép tôi vào cái nhóm văn hoá Trung Quốc vì tôi không muốn trông thấy hình ảnh chính mình lại khoác bộ trang phục của họ để cổ suý cho một nền văn hoá của một quốc gia đang xâm lấn lãnh thổ và làm hại người dân tôi mỗi ngày trên biển đảo!

Bạn ấy bảo tôi cực đoan, chính trị là chính trị mà nghệ thuật là nghệ thuật! Tôi nói trước đây tôi cũng đã từng nghĩ như vậy nhưng bây giờ thì không vì chính Trung Quốc cũng đã không nghĩ như vậy, họ là những kẻ xảo ngôn nên ta không cần phải tôn trọng và hãy lấy hình ảnh tôi ra khỏi bức ảnh ấy, người bạn này đã tỏ ra thất vọng và miệt thị tôi khá nặng! Lúc đó tôi có nghĩ chắc bạn này là một dư luận viên.

Trong đợt kỷ niệm cho sự kiện của một hội chuyên ngành về sân khấu, người ta muốn dựng lại một số vở kịch lừng danh của nhà hát sân khấu nhỏ 5B mà một thời tôi đã gắn bó tài nghệ mình nơi đó, chỉ là một đợt hoạt động mang tính sự kiện thôi nhưng trong đó có vở Lôi Vũ (tác giả Tào Ngu – Trung Quốc) mà tôi đã thành công nhiều với vai Chu Xung. Tôi từ chối tham gia cũng vì lý do trên, không thể khác!

Không thể viện lý do nghệ thuật khác với chính trị để chính mình tự làm tổn thương lòng tự trọng dân tộc của mình. Khi hai quốc gia còn là bạn bè tôn trọng chủ quyền của nhau thì nghệ thuật còn làm thăng hoa nhau được, chứ ai lại có thể đi tôn vinh văn hoá của một quốc gia nó bắn giết dân ta, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của ta từng ngày từng giờ được?

Tôi đã nói rõ quan điểm của mình như vậy với ban tổ chức và không hiểu sao sau đó đợt sự kiện đó cũng ngưng lại luôn, chắc vì không có kinh phí chứ không phải là từ tôi, tôi chỉ là hạt cát trong cái sa mạc showbiz Việt nhu nhược nầy!

Cũng như có lần tôi từ chối làm đại sứ hình ảnh cho một sản phẩm của Trung Quốc (họ đài thọ tôi du lịch miễn phí bên đó) thì cũng có vài người bảo tôi dại đã để vuột khỏi tay 1 cây cờ !!!

Rồi bây giờ là một danh sách dài ngoằng các tài tử minh tinh điện ảnh và nghệ sĩ của Trung Hoa lục địa mà “thần dân” xứ Việt chết mê chết mệt đã lên tiếng ủng hộ cái gọi là “đường lưỡi bò” láo xược trên biển Đông của chính quyền Trung Quốc, họ phản đối phán quyết của toà án quốc tế, bất chấp luật pháp và đi ngược lại với lương tri thế giới.

Những cái tên như Phạm Băng Băng, Triệu Vy, Huỳnh Hiểu Minh, Lục Tiểu Linh Đồng… vốn đã xem chúng ta là thần dân của họ, tài nguyên nước ta là tài sản của quốc gia họ từ bao đời nay rồi! Vậy có đúng là nghệ thuật kinh tế đi trước để lót đường cho chính trị và xâm lược đi sau không?

Các văn nghệ sĩ, các fans hâm mộ những soái ca, tỉ tỉ, những thứ ngôn tình hay nam thần ngọc nữ gì đó… hãy tỉnh táo và sáng suốt mà lo bảo vệ những giá trị văn hoá Việt còn sót lại trong mong manh và chỉ có chúng ta mới là những người phải thể hiện lòng tự tôn dân tộc mình. Tôi không kêu gọi kỳ thị mà tôi kêu gọi sự thức tỉnh!"

Thành Lộc

08/05/2026

NAM KỲ LÀ ĐẤT TỔ TIỀN NHÂN KHAI KHẨN, ĐỪNG CÓ TỊ NẠNH PHÂN BÌ "THIÊN NHIÊN ƯU ĐÃI.."

Chúng ta hay nghe giọng điệu sặc mùi tị hiềm này của người đàng ngoài để bào chữa cho cái thua kém của họ, nó na ná cái giọng điệu AQ "Đất nước ta vừa trải qua chiến tranh, được như hôm nay đã là kỳ tích".

Kẻ nào mở miệng nói đất Nam Kỳ này là "thiên nhiên ưu đãi", kẻ đó hoặc là khôngg biếtt chữ, không tìm hiểu lịch sử hay ít ra là đọc sách "Lịch sử khẩn hoang Miền Nam" của nhà văn Sơn Nam, hoặc là hạng trí trá, muốn phủi sạch cái công sức cao dày của tổ tiên chúng ta.

Luận điệu này lan tràn, đục khoét tâm hồn của các thế hệ hậu sanh, và khi không hiểu ý đồ xấu xa ẩn sâu trong nó, họ tự hào vui sướng thốt lên "Miền Nam màu mỡ, chim cá quanh năm", đó là họ đã vô tình xoá sạch dấu ấn xương máuu của tiền nhân.

Đất này, nếu không có bàn tay ông cha ta từ thời Ngũ Quảng, Minh Hương cùng sắc dân bản địa Chân Lạp, Chăm, Stieng... hợp lực khai khẩn, thì làm gì có cái "vựa lúa" cho bây giờ ngồi đó tị nạnh?!

Đừng đánh tráo khái niệm "ưu đãi", vì đó là "máu và nước mắt", bao nhiêu con người đã nằm lại chốn hoang vu chỉ để Nam Kỳ tốt tươi như bây giơg.
Nghe hai chữ "ưu đãi", vừa thấy cười khinhh vừa thấy mặn chát.
Ưu đãi nỗi gì khi xưa kia đây là chốn rừng thiêng nước độc, muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội tựa bánh canh?
Nước mặn phèn chua phải trồng cây bần cây đước, nắng cháy da người, mùa nước nổi lụt trắng xoá đồng, tới nỗi người chếtt không có chỗ chôn như trong tản văn "quên tên" của Nguyễn Ngọc Tư từng diễn tả!
Cọp beo, rắn rít đầy rẫy, đến nỗi hùm thiêng trở thành nỗi ám ảnh trong tâm linh người đi mở cõi.

Biết bao nhiêu mạngg người đã nằm xuống, máuu đã đổ xuống để đổi lấy màu xanh của ruộng đồng.
Cho nên, nói "ưu đãi" là một cách chối bỏ công ơn, là sự xúc phạm trắng trợn đến những người đã trầy vi tróc vẩy khai phá nơi này.

Thậm chí những kẻ có học thức cũng bị cái tư duy này ăn mòn, tôi nhớ như in 20 năm trước những thằng bạn miền ngoài chung lớp ĐH ngồi cafe hay ca thán, phân bì "Miền Nam chúng mày trù phú màu mỡ.., nên bởi vậy dân tao siêng năng hơn...". Hàm ý của tụi này là tự hào ngầm, cho rằng dân Nam llười biếng, còn chúng thì cần cù.
Tự nhiên từ đâu tới ăn nhờ ở đậu, rồi lại giở giọng dè bĩu dân Nam Kỳ "lười nhác, nhàn hạ".
Cái sự "nhàn hạ" đó là cái phúc mà cha ông họ đã đánh đổi bằng mạng sống mới có được, để bây giờ họ hưởng. Đừng lấy cái nghèoo khó, cái cực nhọc "vì điều gì đó" mà so sánh rồi tự phụ hão huyền.
Ông cha người ta đổ mồ hôi sôi nước mắt xây đắp quê hương, con cháu người ta hưởng cái thành quả đó là lẽ đương nhiên.
Dung nạp đâu cái thói cứ nghĩ mình là cha thiên hạ như vậy?!

Đất Nam Kỳ xưa nay vốn rộng lượng, dân Nam Kỳ vốn hào sảng bao dung.
Sống đàng hoàng, kính trọng thổ công, yêu thương con người xứ này thì đất sẽ đãi, người sẽ thương.
Đừng như con nhỏ tiktoker Thanh Hoá vô Nam quay Vlog nói người Nam làm bàn thờ ở ngoài như thờ... maa.
Đó là dân Nam vẫn không quên thắp nén nhang tạ ơn những linh hồn khuất mặt đã bỏ mạng để gầy dựng nên mảnh đất này.
Như phong tục đám giỗ bày một mâm cúng thổ công và tiền nhân khai khẩn vậy!

Sống sao cho nhân bản, vị tha một chút, biết đâu sau này khi nghe chữ "Bấc Kỳ" thì cũng thản nhiên như khi người Nam nghe "Nam Kỳ" vậy!!
_CSHA_

*"Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" thì follow - dõi theo Hắc Ám tại hạ để có duyên gặp lại. Thanks so much!

27/04/2026

ĐỪNG VỘI TUYỆT TÌNH
🐕‍🦺🐕‍🦺🐕‍🦺
Đừng tuỳ tiện tuyệt tình với ai, sẽ có lúc tình thế bắt ta phải cần đến họ. Đừng vì một chút bất hòa mà ân đoạn, nghĩa tuyệt. Không có kẻ thù mãi mãi, cũng không có bằng hữu vĩnh viễn.
Bởi “Vạn vật vô thường”, “thế sự đa biến”. Tất cả các mối quan hệ đều theo thời gian và hoàn cảnh mà thay đổi.

Ta xua đuổi, hất hủi, ghẻ lạnh. Họ sẽ tìm đến người khác. Nếu người mà họ tìm đến là kẻ thù của ta, nghĩa là ta có thêm kẻ thù.

Cuộc đời không ai lường trước những biến cố xảy ra. Cho nên đừng bao giờ cư xử đến mức ân đoạn, nghĩa tuyệt. Bỏ qua cho họ, đồng nghĩa với việc “chừa đường lui” cho mình.

Đạo đức con người càng thối nát; xã hội càng đảo điên bởi đồng tiền. Thì nhân nghĩa, tình người càng trở nên quý hiếm và được trân trọng. Nó như sao sáng giữa trời đêm tăm tối; như đóm lửa ấm áp trong cơn bão tuyết mịt mù.

Cho nên, hãy cư xử nhân nghĩa với nhau không chỉ vì “chừa đường lui”; không chỉ vì “cần đến họ”; mà vì đạo đức, vì sự ấm áp của tình người.

15/04/2026

Con chim se sẻ đẻ cột đình,
Bà Ngoại đẻ Má, Má đẻ mình…

Má đẻ út khi đã lên chức bà ngoại. Út mót, bởi vậy con nhỏ khờ căm, hiền queo, dễ ụi.
Má trở dạ hồi gà chưa gáy sáng, Tía xếp vội mấy bộ đồ, cái bình thuỷ, cái khăn cái mền, chèo xuồng xuống trạm xá xã.
Mình thành đứa nhỏ mở hàng cho trạm, cũng khai nghề luôn cho cô hộ sanh, sau này mình gọi là má 5. Má nói đẻ mình cái một, chưa kịp rặn đã ra, èo uột nhỏ xíu, mà dễ nuôi.
Mình là đứa con duy nhất trong nhà mang họ của Má. Giàu út ăn nghèo út chịu mà.

Út lớn một chút, Má để tự chơi, tranh thủ ra vườn trồng rau, mần cỏ. Út đứng vịn mé vách, thò đầu ra cửa sổ, mấy anh chị chỉ Má kìa Má kìa! Trong đôi mắt trẻ thơ ngày đó, chắc Má đẹp dữ lắm và thèm hơi Má dữ lắm. Trộm vía Má mát sữa, nên út ú ù, mặt má bầu giống Tía, cười lên có cái đồng tiền giống Má, có điều dòm mặt vẫn khờ, thấy thương.

Lớn thêm chút nữa, là những đêm hôm Má kêu dậy, đốt bó đuốc lá dừa, Má cõng út băng qua một đỗi đường đê, ra bến đợi đò. Đi hết chuyến Đò dọc Tân Xuân rồi tới Đò ngang của dì Diệu, Má mua chuộc út cây kẹo bông gòn để tiếp tục lội bộ rả cặp cẳng về Ngoại.

Nhà Ngoại góc nào cũng ấm áp, trước sân toàn là đất cát, sau hè là luống đất giồng trồng đậu, nước thì mằn mẵn lơ lớ vị vừa biển vừa sông.
Bến sông nhà Ngoại có mấy gốc bần, có tiếng đò ghe tành tạch ngày đêm, có cái xẻo lá dày bụp dừa nước, Ông Ngoại hay ra ngồi câu cá.
Bà Ngoại nấu toàn đồ ăn chay mà món nào cũng ngon bá chấy bù chét. Vậy đó chứ thỉnh thoảng Ông Ngoại vẫn lén lén mần riêng cho con út ơ cá kho mía hay tô canh chua bông bần…

Mình nhớ những chuyến đò về quê Ngoại.
Mình nhớ Ngoại móm xọm hay chửi Mồ Tổ Cha Mày.
Mình nhớ cái dáng vẻ mảnh khảnh mà nhanh nhẹn ngày ấy của Má.

Ký ức vẫn vẹn nguyên ở đó,

Chỉ có Ngoại là bay lên trời.
Còn Má, vẫn nắm tay mình. Chỉ khác là khi xưa Má dắt, Má cõng. Còn bây giờ Má mỏng manh đang bám víu vào tay mình để bước đi từng bước thật chậm, thật gần…
con sẽ cõng Má cả quãng đời sau này, chỉ cần ôm chặt lấy con ❤️

12/04/2026

🌍BÓC TRẦN SỰ THẬT SAU TẤM MÀN NHUNG "QUỐC GIA HẠNH PHÚC NHẤT THẾ GIỚI"🌍

1️⃣. Cuộc "tháo chạy" sang Úc (Làn sóng di cư kỷ lục)
Đây là bằng chứng đanh thép nhất. Nếu thực sự hạnh phúc, người dân sẽ không rời bỏ quê hương hàng loạt.

* Số liệu: Chỉ trong vài năm gần đây, hàng chục nghìn người Bhutan (chiếm khoảng 5-9% dân số) đã di cư sang Úc để làm những công việc chân tay như quét dọn, phục vụ nhà hàng.
* Sự thật: Tỷ lệ thất nghiệp ở thanh niên Bhutan lên tới gần 20-30% ở các khu vực đô thị. Người trẻ cảm thấy bế tắc vì kinh tế trì trệ, họ chọn đi xuất khẩu lao động để gửi tiền về nuôi gia đình thay vì ở lại tận hưởng "hạnh phúc" tại quê nhà.

2️⃣. Tỷ lệ tự tử và sức khỏe tâm thần (Mặt tối của tâm linh)

* Số liệu: Theo báo cáo của Bộ Y tế Bhutan, tự tử là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở thanh niên. Năm 2023-2024 ghi nhận khoảng 100 ca tự tử/năm trên tổng dân số chỉ khoảng 780.000 người.
* Sự thật: Việc coi mọi đau khổ là "nghiệp" (karma) vô tình tạo ra áp lực tâm lý khủng khiếp. Thay vì được điều trị y tế hiện đại, nhiều người bị trầm cảm lại tìm đến các nghi lễ tâm linh hoặc cam chịu, dẫn đến kết cục đau lòng khi không tìm thấy lối thoát thực tế.

3️⃣. Sự phân hóa giàu nghèo và phí du lịch "cắt cổ"

* Số liệu: Phí phát triển bền vững (SDF) từng có lúc lên tới 200 USD/ngày/khách.
* Sự thật: Bhutan xây dựng một mô hình du lịch "sang chảnh" để hút ngoại tệ từ người giàu phương Tây. Tuy nhiên, nguồn tiền này chủ yếu tập trung vào chính phủ và các công ty du lịch lớn ở thủ đô Thimphu, trong khi nông dân ở các vùng xa xôi vẫn sống trong cảnh thiếu thốn điện, nước sạch và hạ tầng y tế cơ bản.

4️⃣. Vấn đề sắc tộc (Vết sẹo lịch sử)
Để giữ hình ảnh một quốc gia "thuần khiết" và hạnh phúc:

* Sự thật: Vào những năm 1990, Bhutan đã trục xuất hơn 100.000 người dân gốc Nepal (nhóm thiểu số Lhotshampa) vì lo ngại ảnh hưởng đến bản sắc văn hóa và tôn giáo của đất nước. Những người này đã phải sống trong các trại tị nạn hàng thập kỷ. Một quốc gia "hạnh phúc" thật sự khó có thể dung thứ cho việc thanh lọc sắc tộc quy mô lớn như vậy.

5️⃣. Xếp hạng thực tế trên thế giới

* Bằng chứng: Trong Báo cáo Hạnh phúc Thế giới (World Happiness Report) của Liên Hợp Quốc — dựa trên các tiêu chí khoa học như GDP, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ, quyền tự do — Bhutan thường chỉ đứng quanh vị trí 95-97.
* Sự thật: Các nước Bắc Âu (Phần Lan, Đan Mạch) mới là những nước thực sự đứng đầu nhờ hệ thống phúc lợi xã hội hoàn hảo, chứ không phải một quốc gia dựa trên niềm tin tôn giáo như Bhutan.

6️⃣. Nghịch lý thu nhập: Lương tối thiểu không đủ sống

* Số liệu: Lương tối thiểu tại Bhutan chỉ khoảng 3.750 - 4.500 Ngultrum (tương đương 1,1 - 1,4 triệu VNĐ). Một công chức bình thường nhận khoảng 15.000 - 20.000 Ngultrum (4,5 - 6 triệu VNĐ).
* Sự thật: Do địa hình núi cao và phụ thuộc nhập khẩu từ Ấn Độ, chi phí sinh hoạt tại Bhutan rất đắt đỏ. Mức lương này thậm chí không đủ chi trả tiền thuê nhà và ăn uống tối thiểu tại đô thị. "Hạnh phúc" trở thành một thứ xa xỉ phẩm khi người dân phải vật lộn từng bữa cơm dưới cái bóng của những tu viện uy nghiêm.

7️⃣. Tỷ lệ ly hôn cao kỷ lục
Theo báo cáo từ Cục Thống kê Quốc gia Bhutan (NSB) và khảo sát mức sống (BLSS 2022), tỷ lệ người từng ly hôn tại Bhutan đã tăng từ 2,1% (2017) lên 3,4% (2022). Tại các khu vực đô thị như Thimphu, các vụ án hôn nhân luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hồ sơ tòa án. So với các quốc gia láng giềng như Ấn Độ (tỷ lệ dưới 1%), Bhutan có tỷ lệ ly hôn thuộc hàng cao nhất khu vực và thế giới, một thực tế khá lạ lẫm với quốc gia coi trọng chỉ số "Hạnh phúc quốc gia" (GNH).

📍Kết luận:
"Hạnh phúc" của Bhutan giống như một chiến lược thương hiệu quốc gia (National Branding) cực kỳ thành công để tồn tại giữa hai gã khổng lồ Ấn Độ và Trung Quốc. Họ bán "sự bình yên" cho thế giới để thu ngoại tệ, nhưng bên trong nội tại, người dân Bhutan vẫn đang vật lộn với những nỗi khổ trần tục: cơm áo, gạo tiền và sự bế tắc về tương lai.

___&___

📍Tâm Đồng đã chat với AI để AI cung cấp những số liệu phía trên, số liệu thì khó lòng mà nói dối lắm!!

___&___

⚡Gửi những người KHÔNG QUEN:
Ban đầu tôi đăng bài này chỉ để phục vụ cho bản thân tôi và những người follow tôi. Tuy nhiên, không biết vì sao mà nó lại trở nên viral. Nhiều người tôi chẳng hề quen biết lại vào nói những lời lẽ nặng nề với tôi. Vậy các bạn vui lòng chú ý, để chúng ta tránh nói những thứ không bổ ích gì cho cuộc đời mỗi người:

Bạn nào muốn phản biện thì cứ theo 7 mục phía trên mà phản biện. Những comment phản biện có lý lẽ & lịch sự, tôi sẽ không có ý kiến. Vì chuyện bất đồng quan điểm, góc nhìn khác nhau là điều bình thường, chẳng có gì để nói.

Ngược lại, nếu bạn là những người mở các nhóm DẠY LÀM GIÀU theo kiểu "Phật pháp" dởm thì tôi sẽ block bạn ngay. Hoặc là những bạn cứ lải nhải (nói nhiều, lần lặp đi lặp lại) rằng AI thế nọ thế kia mà không trực tiếp đi thẳng vào 7 vấn đề bài viết nêu ra cũng bị block. Vào nhà người khác thì phải nhớ giữ lấy lịch sự tối thiểu các bạn nhé!!

Want your business to be the top-listed Beauty Salon in Long Xuyên?
Click here to claim your Sponsored Listing.

Website

Address


Long Xuyên

Opening Hours

Monday 09:00 - 17:00
Tuesday 09:00 - 17:00
Wednesday 09:00 - 17:00
Thursday 09:00 - 17:00
Friday 09:00 - 17:00
Sunday 09:00 - 17:00